=== TÌM KIẾM THÔNG TIN LÚA GẠO ===

=== BÀI VIẾT MỚI NHẤT ===

=== BÀI ĐĂNG PHỔ BIẾN ===


Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2011

Giáo sư Lương Định Của - nhà tạo giống cây trồng nông nghiệp

LUAGAO - gởi tới Quý độc giả bài viết về Cố Giáo sư Lương Định Của, Người con Anh hùng của Sóc Trăng của TS Lê Hưng Quốc - Phó CT Hiệp Hội TM Giống Cây Trồng, Chủ tịch Hiệp hội Khí Sinh học VN


GS Lương Định Của và Phu Nhân

Giáo sư Bác sỹ nông học Lương Định Của là một người con của Nam Bộ, sinh năm 1920 tại xã Đại nghĩa, huyện Long phú , tỉnh Sóc trăng. Sau khi đi tu nghiệp và đạt được học vị Tiến sỹ nông học ở Nhật bản 1952, Chính phủ Nhật đã mời Ông ở lại làm việc nhưng Ông vẫn cùng gia đình (phu nhân Giáo sư Lương Định Của là người Nhật bản) trở về phục vụ Tổ quốc dù lúc đó đất nước bị chia cắt thành 2 miền.

Trong điều kiện chiến tranh “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Giáo sư Lương Định Của bắt tay vào những công việc đầu tiên góp phần xây dựng nền móng cho nền nông nghiệp VN hiện đại.

Đóng góp trước hết của Giáo sư Lương Định Của là trong lĩnh vực đào tạo cán bộ khoa học nông nghiệp, khi Ông trong cương vị Phó Giám đốc Học viện Nông Lâm Hà nội, Trường ĐH Nông nghiệp Hà nội, Viện Trưởng Viện Cây Lương thực , Cây thực phẩm (Tứ Lộc-Hải Dương).Lớp sinh viên đại học của chúng tôi khi ấy mới ra trường được tắm mình trong thực tiễn sản xuất, học các thao tác kĩ thuật trực tiếp ở Viện Lúa Tứ Lộc , các HTX nông nghiệp… đó là những trường học của những kĩ sư, kĩ thuật viên nông nghiệp trẻ tuổi. Thế hệ ấy sau này nhiều người đã trưởng thành những nhà khoa học có đóng góp xứng đáng như lớp thế hệ của PGS.TS Anh hùng Lao động Nguyễn thị Trâm… Nhiều lớp cán bộ nông nghiệp do Giáo sư đào tạo đã trở thành những cán bộ đầu đàn trong nhiều lĩnh vực khoa học nông nghiệp. Giáo sư có nhiều thế hệ học trò xuất sắc.

Giáo sư Lương Định Của là nhà tạo giống cây trồng nông nghiệp mang các thương hiệu Việt nam đầu tiên. Giống lúa Nông nghiệp I do Giáo sư Lương Định Của lai tạo từ giống Ba thắc(Sóc Trăng-Nam bộ) với Kun Ko (Nhật bản) là giống lúa VN đi vào sản xuất trên đồng ruộng từ những năm 60 của thế kỷ trước. Hàng loạt giống ưu thế lai như giống lúa chiêm 314( Đoàn kết X Thắng lợi), giống NN8-388, giống 75.1( 813X NN1), giống lúa mùa Sai Su bao, giống NN75.5, dưa lê, cà chua,khoai lang, dưa hấu không hạt, chuối, rau… mang tên “Giống Bác sỹ Của” lần đầu xuất hiện ở VN cùng với những ứng dụng kỹ thuật di truyền và tiến bộ kĩ thuật mới : kĩ thuật tam bội thể, tứ bội thể, chất kích thích sinh trưởng v.v…

Đặc biệt Giáo sư Lương Định Của đã đưa vào Nông nghiệp nước ta phương pháp “cấy ngửa tay Nhật bản” được hàng chục triệu người nông dân miền Bắc khi đó tiếp nhận và áp dụng tạo ra một cuộc cách mạng trong chuỗi kĩ thuật thâm canh lúa, thay đổi tập quán cấy úp tay hàng ngàn năm của nông dân VN. Giáo sư đã đề xướng ra mô hình canh tác “bờ vùng, bờ thửa” vẫn còn áp dụng đến ngày nay. Giáo sư đã ứng dụng một tiến bộ kĩ thuật có ý nghĩa to lớn phù hợp với sinh lý cây lúa: cấy nông tay(lúa phục hồi nhanh, đẻ nhanh, đẻ khỏe) đảm bảo mật độ, một trong ba yếu tố cơ bản của năng suất lúa. Như vậy, cùng với giống mới, các kĩ thuật mới này đã góp phần vào phong trào thâm canh tăng năng suất lúa, góp phần vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi. “Ruộng cấy chăng dây cây lúa thẳng hàng”. (Bài ca “Đường cày đảm đang “ –An Chung) đã trở thành bài ca nổi tiếng trong nông nghiệp thời chống Mỹ cứu nước.

Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản HCM đã lập một giải thưởng mang tên Lương Định Của, hàng năm xét trao cho 100 gương mặt tiêu biểu đại diện cho 13 triệu thanh niên nông thôn có những thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực: sản xuất, kinh doanh, chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật , công nghệ, xây dựng nông thôn mới. Đó là những “ông chủ mới” năng động dám nghĩ dám làm trong phong trào thanh niên nông thôn thực hiện bốn mới( kĩ thuật mới, ngành nghề mới, thị trường mới, mô hình mới)

Quận Đống đa thủ đô Hà nội có một đường phố mang tên Ông. Tại ngã ba Phạm Ngọc Thạch-Lương Định Của có một dãy ki-ốt kinh doanh hoa tươi bốn mùa rực rỡ sắc màu tỏa hương thơm ngát như luôn tưởng nhớ tới Lương Định Của, một nhà nông học xuất sắc, người đi đầu trong lĩnh vực cải tạo giống cây trồng của VN.

Giáo sư Lương Định Của được bầu là đại biểu Quốc hội. Giáo sư là nhà khoa học Nông nghiệp đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ chống Mỹ và huân chương Lao động Hạng Nhất năm 1967, được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ đợt 1 năm 1996. Mấy chục năm Giáo sư đã đi xa nhưng những học trò của Giáo sư , hàng triệu nông dân VN vẫn đang áp dụng kiến thức và kỹ năng của Giáo sư truyền lại, luôn ở trong “cõi nhớ” của nông dân Việt nam.

Nhà Nông học Lương Định Của không còn nữa nhưng dấu chân của Ông trên các cánh đồng , những giống cây Ông để lại và tên tuổi Ông vẫn còn khắc sâu trong tâm trí của những người nông dân VN. Nông dân nước ta luôn trìu mến gọi Ông là nhà bác học của họ.


Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG FESTIVAL LÚA GẠO LẦN II - SÓC TRĂNG

LUAGAO - Trân trọng gởi đến quý độc giả quan tâm tới Festival Lúa Gạo lần II - Sóc Trăng chương trình hoạt động cụ thể. Click để phóng lớn ảnh lên để xem được rõ

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Cây lúa thời hội nhập

LUAGAO - Sản xuất lúa theo hướng GAP là yêu cầu tất yếu của thời đại. Nhưng nhân tố giá cả, chất lượng, thương hiệu… có ý nghĩa quyết định trong sự cạnh tranh, điều kiện then chốt, sống còn cho việc sản xuất. PGS. TS. Mai Thành Phụng (ảnh) là một nhà khoa học, thuộc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, đã có nhiều tham luận đóng góp cho các diễn đàn về cây lúa.

Sản xuất lúa theo hướng GAP là yêu cầu tất yếu của thời đại. Nhưng nhân tố giá cả, chất lượng, thương hiệu… có ý nghĩa quyết định trong sự cạnh tranh, điều kiện then chốt, sống còn cho việc sản xuất. PGS. TS. Mai Thành Phụng (ảnh) là một nhà khoa học, thuộc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, đã có nhiều tham luận đóng góp cho các diễn đàn về cây lúa.
- Thưa PGS, xin ông cho biết có những yêu cầu nào để nông dân có thể đưa được lúa gạo của mình ra thị trường nước ngoài cạnh tranh?
PGS. MTP: Nông dân cá thể, nông dân bình thường khó có thể trực tiếp đưa sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài. Như vậy để có thể đưa sản phẩm ra nước ngoài nông dân cần: Liên kết tổ chức sản xuất, liên hệ với đầu ra ký kết hợp đồng trước khi sản xuất. Cần lưu ý: sản phẩm phải đạt chất lượng, có độ đồng đều cao và bảo đản đủ số lượng để cung cấp cho bên mua đúng hợp đồng đã ký kết. Nông dân sản xuất theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt được doanh nghiệp đầu ra chấp nhận thu mua và xuất khẩu.
- Ông có yêu cầu quan tâm hơn nữa chất lượng lúa gạo, vậy phải làm gì để đạt được yêu cầu này?
PGS. MTP: Chất lượng lúa gạo phụ thuộc: đặc điểm giống, quy trình canh tác 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, thực hành nông nghiệp tốt, thu hoạch đúng độ chín, tăng cường các biện pháp bảo vệ hạt lúa sau thu hoạch (phơi, sấy, tồn trữ, bảo quản), công nghệ chế biến, xay xát và bảo quản, tồn trữ hạt gạo. Như vậy cần phải làm các việc sau: 1/ Cần xây dựng vùng nguyên liệu, tổ chức lại sản xuất, tăng cường cơ sở vật chất và hạ tầng cho vùng sản xuất lúa (theo quy hoạch), tăng cường liên kết 4 nhà trong sản xuất – tiêu thụ lúa gạo. 2/ Tăng cường công tác nghiên cứu và xác định cơ cấu giống lúa phù hợp cho từng vùng sinh thái, có phương án sản xuất, nhân giống, cung ứng giống hợp lý (xã hội hóa công tác giống) để có thể đưa giống tốt ra sản xuất ngày càng cao. 3/ Tăng cường công tác nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và khuyến nông trên cây lúa. 4/ Tăng cường cơ giới hóa (tất cả các khâu sản xuất lúa), đặc biệt là khâu thu hoạch, sấy lúa, bảo quản hạt lúa. 5/ Triển khai nhanh chương trình sản xuất lúa theo Viet GAP và nhà nước có chính sách hỗ trợ để thực hiện chương trình này.
- Còn hạ giá thành, thực tiễn phải làm gì?
PGS. MTP: Nông dân không ngừng học hỏi và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trên cây lúa, nông dân liên kết sản xuất để có thể áp dụng các TBKT như 3G3T, 1P5G, cơ giới hóa và ký kết hợp đồng với doanh nghiệp đầu vào (cung ứng giống, phân bón, thuốc BVTV, dịch vụ làm đất, tưới nước…) và doanh nghiệp đầu ra (bao tiêu sản phẩm).
- Giải pháp cho việc thu hoạch và sau thu hoạch rõ, nhưng vướng chỗ nào, ta thực hiện không đúng được các giải pháp?
PGS. MTP: Việc áp dụng máy gặt đập thu hoạch lúa trong các năm qua đã làm tốt. Số lượng máy GDLH đã tăng rất nhanh ở DBSCL từ 497 máy (7/2007) đến nay (7/2011) là trên 6.500 máy và có thể tiếp tục tăng nhưng theo tôi là chưa bền vững. Giải pháp sắp tới đề xuất: (i) nhà nước cần có chính sách thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp máy GDLH trong nước; (ii) có chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp làm dịch vụ gặt đập liên hợp; (iii) có chính sách cho vay vốn hỗ trợ lãi suât mua máy GDLH; (iv) có chính sách đẩy mạnh đầu tư cho công tác nghiên cứu về cơ giới hóa trong sản xuất lúa. Về sấy, hiện nay có 6.500 lò sấy quy chuẩn (4t mẻ) là trên 9.000 lò sấy đáp ứng khoảng 30% sản lượng lúa vụ Hè Thu ở ĐBSCL. Giải pháp sắp tới: (i) doanh nghiệp thu mua lúa, xuất khẩu gạo cần có vùng nguyên liệu và liên kết với kho tàng, máy sấy, tồn trữ, bảo quản lúa; (ii) có chính sách thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất ra các máy sấy thích hợp; (iii) có chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp làm dịch vụ sấy lúa; (iv) cho vay vốn hỗ trợ lãi suất cho nông hộ mua máy sấy .
- “Festival lúa gạo Việt Nam” lần này tại Sóc Trăng, theo ông diễn đàn Nông nghiệp nên tập trung những vấn đề nào?
PGS. MTP: (i) Thông tin về triển vọng và giá cả, thị trường xuất khẩu gạo của VN trong năm 2011 và các năm sắp tới; (ii) Các chính sách về bảo hiểm nông nghiệp, bình ổn giá cả cho lúa gạo; (iii) Thông tin về các TBKT mới nhất ứng dụng trên cây lúa đặc biệt là các giải pháp đối phó với sự biến đổi khí hậu toàn cầu; (iv) Thông tin về chính sách của nhà nước về quy hoạch, sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu, vay vốn tín dụng, hỗ trợ sản xuất; (v) chương trình hỗ trợ sản xuất lúa theo Việt GAP và một số thành tựu của mô hình liên kết 4 nhà trong sản xuất – tiêu thụ lúa gạo.
Xin cám ơn ông!


HUỲNH CÔNG thực hiện (nguồn Báo Nông Nghiệp Việt Nam)

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

GS-TS. Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL: LÚA LÀ MỤC TIÊU

LUAGAO - Sản xuất lúa hằng năm tăng đều theo công nghệ sản xuất mới. Bên cạnh đó, vẫn có một số hạn chế cho việc sản xuất lúa hiệu quả cao. GS. TS. Nguyễn Văn Luật là một nhà quản lí đã nhiều năm lãnh đạo Viện Lúa ĐBSCL; nhưng ông còn là một chuyên gia giỏi về cây lúa. Trong các Diễn đàn, GS. luôn có những tham luận khoa học đề cập việc tăng năng suất lúa trên nền tảng của công nghệ sản xuất mới ở Việt Nam. GS-TS. Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, có cuộc trao đổi với Báo NNVN về những vấn đề ông quan tâm nhân Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ II năm 2011 từ ngày 8/11/2011 đến ngày 11/11/2011, tại Sóc Trăng.

PV: Thưa GS, về hưu không tham gia công tác quản lí, ông vẫn nặng lòng với nông dân và cây lúa?
GS. NVL: Vâng, nhưng nói “nặng tình” thì đúng hơn, nặng tình đến mức “phải lòng” nếu không nói quá. Đấy là ước nguyện của tôi mà, từ khi tự nguyện rời khỏi vị trí “giảng viên trẻ đại học NN 1 Hà Nội” để gần nông dân, gần cây lúa tính đến nay đã gần nửa thế kỷ đấy, trong thời gian đó ở ĐBSH thì tôi có góp phần đưa vụ lúa Xuân thành vụ chính; ở ĐBSCL thì góp phần đưa vụ lúa Thu Đông thành vụ lúa chính. Thật thú vị: khi mình còn trẻ thì “nặng tình” với nông dân và cây lúa ở ĐBSH phù sa “cao tuổi” với vụ lúa xuân; Khi mình cao tuổi, hay tuổi đã sang thu thì vẫn trung thủy với hai đối tượng trên, nhưng ở vùng phù sa trẻ ĐBSCL với vụ lúa thu đông cùng với các giống lúa OMCS mà nhiều nhà báo dịch sai là “ôm em cực sướng.
PV: Ông nói nhiều về công nghệ sản xuất mới. Xin ông cho biết, những vấn đề chính nông dân trồng lúa nên quan tâm.
GS. NVL: Hiện nay, những vấn đề chính nông dân trồng lúa nên quan tâm chính là khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT mới nhất. Đấy là việc thực hiện “Ba không”: Không cúi cấy; Không phơi lúa; và Không gặt lúa bằng tay. Về lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội do khuyến cáo này đưa lại rất to lớn, chắc hẳn là bà con nông dân mình và cán bộ khuyến nông đã rõ. Tôi chỉ xin nói thêm một chút: “Ba không” cũng là một “gói định hướng kỹ thuật mở” nhằm thực hiện “Ba tăng, Ba giảm”, một gói kỹ thuật mở mang tính phong trào nhằm đưa nhanh kỹ thuật mới vào sản xuất, như PCT An Giang Huỳnh Thế Năng đã có nói. Vì là gói kỹ thuật mở, nên ở miền Bắc là “Không cúi cấy” còn ở ĐBSCL là “Không sạ lan lãng phí” mà dùng dụng cụ sạ lúa theo hàng. Dụng cụ này là IRRI SEEDER, vì mẫu máy của Viện Lúa Quốc tế, tôi mang về, cùng Viện tôi và doanh nghiệp tư nhân Hoàng Thắng nghiên cứu cải tiến, bà con nông dân miền Tây hưởng ứng sử dụng. Đến nay miền Bắc lại áp dụng nhanh hơn, tôi rất vui về điều đó, vì quê tôi ở Hà Nội mà. Nhiều nước trồng lúa có đến tham quan rút kinh nghiệm và mua mẫu máy đã cải tiến từ Việt Nam ta mang về phát triển ở nước mình.
PV: Còn theo ông, nông thôn mới có ý nghĩa như thế nào tới việc trồng lúa?
GS. NVL: Nông thôn mới có ý nghĩa rất quan trọng tới việc trồng lúa, là bước đi cơ bản nhất cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, cũng là biện pháp rất thiết thực nhằm “Đền ơn đáp nghĩa” với bà con nông dân mình vốn chịu nhiều thiệt thòi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có nói nông nghiệp là giá đỡ cho đất nước mình đứng vững trong biến động về tài chính mấy năm qua. Và chắc chắn sẽ là giá đỡ trước biến đổi khí hậu toàn cầu (BĐKH) ngày càng phức tạp. Nhiều nhà khoa học thế giới có nói BĐKH sẽ dẫn đến thay đổi vị trí quốc gia, nước nào sản xuất được nhiều lương thực thực phẩm sẽ là cường quốc, chứ không như hiện nay, nhiều nước phát triển “hy sinh” nông nghiệp, nông dân, và nông thôn nhằm tập trung vào mấy sản phẩm công nghiệp để giầu có. Họ chỉ biết “Phi công bất phú”, mà không biết “Phi nông bất an”.
PV: Thế, hoạt động khuyến nông giữ vai trò gì trong sản xuất lúa đạt thương hiệu bền vững?
GS. NVL: Hoạt động khuyến nông giữ vai trò quan trọng trong sản xuất lúa đạt thương hiệu “Lúa gạo Việt Nam” bền vững trên thị trường thế giới, tất nhiên là trên cơ sở phát triển sản xuất lúa bền vững. Tổ chức nòng cốt của họat động khuyến nông là Trung tâm Khuyến nông QG, và TTKN tỉnh/ thành, có màng lưới sâu rộng đến huyện, xã, ấp/ xóm. Còn hoạt động khuyến nông thì có rất nhiều tổ chức và cá nhân tham gia, như cá nhân chuyên gia Nguyễn Lân Hùng luôn xuất hiện và hướng dẫn kỹ thuật rất cụ thể, từ con giun, con dế đến con kỳ đà, con dê núi; từ cây lúa cây ngô đến cây tóc gây trầm kỳ Nam.. Nếu như tổ chức khuyến nông có điều kiện quy tụ được các họat động khuyến nông thì bà con nông sẽ được hưởng lợi nhiều hơn.
PV: “Festival lúa gạo Việt Nam” lần này tại Sóc Trăng, ông lại tham gia diễn đàn Nông nghiệp?
GS. NVL: Tất nhiên rồi. Tôi thường được Viện Lúa ĐBSCL hỗ trợ và Cty BVTV An Giang hỗ trợ ít nhiều qua Hội Giống Cây trồng Nam Bộ, nên chưa “lực bất tòng tâm”.
Xin cám ơn Giáo sư!

Bài & ảnh: THẠCH THẢO (nguồn Báo Nông Nghiệp Việt Nam)

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

Giống lúa OM ở Nam Trung bộ: Năng suất cao bất ngờ

LUAGAO - Trong nhiều năm qua, những giống lúa OM được phổ biến rộng rãi và cho thấy tính thích nghi cao ở vùng ĐBSCL. Gần đây một số địa phương các tỉnh Nam Trung bộ, Tây Nguyên đưa nhiều giống lúa mới dòng OM về khảo nghiệm. Trong đó, tại huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận đã đưa các giống lúa mới do Viện lúa ĐBSCL lai tạo về gieo cấy cho năng suất vượt hơn mong đợi.

Theo Phòng NN-PTNT huyện Tánh Linh, năm 2010 Viện lúa ĐBSCL cung ứng hơn 18.600 kg lúa giống bao gồm cấp nguyên chủng (NC) và cấp xác nhận (XN), với các giống lúa OM6162, OM2395, OM6677, OM4900, OM7347, OM6561, OM5472. Kết quả khảo nghiệm đa số giống đều thích nghi với điều kiện sản xuất của địa phương, năng suất đạt bình quân 7- 8 tấn/ha, chất lượng gạo ngon, đáp ứng được thị trường tiêu thụ. Ngoại trừ giống lúa OM6561 có khả năng thích nghi không cao, đẻ nhánh thấp và đang tiếp tục theo dõi qua những vụ sau.

Vừa qua, huyện Tánh Linh hợp tác với Viện lúa ĐBSCL chọn lọc những giống lúa thích nghi nhằm đáp ứng chương trình sản xuất lúa chất lượng cao, quy hoạch tại các xã Nghị Đức, Huy Khiêm và thị trấn Lạc Tánh. Theo đó, trong vụ mùa 2010 và vụ ĐX 2010-2011, sử dụng giống lúa xác nhận OM6162 cấp XN bố trí sản xuất 100 ha trên các chân ruộng tốt, thuận lợi đường giao thông, đảm bảo nguồn nước tưới. Kết quả, năng suất bình quân đạt 65 tạ/ha, cá biệt một số diện tích năng suất cao tới 75- 80 tạ/ha. Sản lượng đạt 650 tấn.

Qua theo dõi tình hình sâu hại, giống lúa OM6162 khi đưa vào sản xuất đại trà có xuất hiện các đối tượng sâu bệnh như rầy nâu, đạo ôn và sâu cuốn lá. Tuy nhiên mức độ gây hại trên đồng ruộng nhẹ. Hiện nay huyện Tánh Linh đang thực hiện kế hoạch sản xuất 3.000 ha lúa chất lượng cao giai đoạn 2010-2015, hợp tác với Viện lúa ĐBSCL tiếp tục thực hiện chương trình khảo nghiệm giống lúa mới như OM10041, OM100040, OM5451, OM6976, OM6916, OM7347, OM5886.

Riêng trong năm 2011, Phòng NN-PTNT huyện Tánh Linh sản xuất 500 ha lúa chất lượng cao với các giống lúa OM 6162, OM4900, OM2395, đồng thời sản xuất giống XN cung cấp đáp ứng nhu cầu nông dân trong huyện.

Nguồn: Báo NNVN

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

Arkansas – Vựa lúa của nước Mỹ

LUAGAO – Câu chuyện kể về doanh nghiệp và nhà khoa học trên con đường đồng hành cùng nông trại làm giàu, chuyên môn hóa trong sản xuất hàng hóa lớn, tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao ở nước Mỹ. Và đặc biệt hơn, câu chuyện sẽ khắc họa tư duy và hành động của những người chủ nông trại trồng lúa này trong việc bảo tồn nguồn nước-tài nguyên quý hiếm mà thiên nhiên ban tặng để dành dụm nguồn lực cho con cháu của họ thế hệ sau này.

Bang Arkansas nằm ở phía nam nước Mỹ. Đường biên tự nhiên phía Đông – sông Mississippi – cung cấp nguồn nước ngầm cho sản xuất và đời sống nông nghiệp của cả bang. Arkansas đứng đầu nước Mỹ về diện tích và sản lượng lúa gạo.
Gần 9.000 nông trại trồng lúa của Arkansas hàng năm cung cấp gần 50% sản lượng lúa của Hoa Kỳ. Diện tích canh tác bình quân của mỗi nông trại khoảng 3000 mẫu Anh. Nông dân trồng luân canh ngô, đậu tương và lúa mỳ.

Sản xuất nông nghiệp tại Arkansas là ngành thâm dụng vốn. Mỗi nông trại thường chỉ có 2 đến 3 nhân công. Trong khi đó yêu cầu đầu tư vốn vào thiết bị canh tác và hệ thống thủy lợi lại rất lớn. Số tiền đầu tư bình quân tại mỗi trang trại khoảng 500.000 USD. Những người chủ nông trại ở Arkansas thường mua máy nông nghiệp của hãng nội địa John Deere, hoặc Case in. Máy nông nghiệp John Deere là thương hiệu lâu đời nhất của Mỹ, thành lập từ những năm 1890.

Thu hoạch lúa

Nước được coi là nguồn tài nguyên quý giá nhất đối với nông dân trồng lúa ở Arkansas. Gần 80% diện tích trồng lúa của Arkansas được tưới bằng nguồn nước ngầm hút lên từ dưới lòng đất của nông trại. 20% diện tích còn lại được tưới bằng nguồn nước từ sông hoặc hồ chứa.

Nguồn nước ngầm là thước đo giá trị của đất nông trại ở Arkansas. Vì lẽ đó, nông dân Arkansas có truyền thống tích lũy vốn từ đời nọ sang đời kia để đầu tư cho hệ thống thuỷ lợi của nông trại. Hệ thống thủy lợi nông trại thường xuyên được cải tiến thiết kế, ứng dụng công nghệ tiên tiến, cho phép tiết kiệm nước, quay vòng tái sử dụng nước, nhằm bảo vệ nguồn nước ngầm cũng như bảo tồn giá trị đất nông trại trong tương lai, đồng thời tăng năng suất lúa. Tất cả hệ thống thủy lợi nông trại ở Arkansas được thiết kế và xây dựng dưới mặt đất. Đây là hệ thống đòi hỏi tiêu tốn rất nhiều tiền đầu tư, thường là tiền tiết kiệm để dành của nhiều thế hệ của mỗi gia đình nông dân Arkansas. Thiết bị công nghệ và vật tư lắp đặt cho hệ thống thủy lợi được phân phối bởi các công ty chuyên nghiệp. Công ty Phân phối Thủy lợi và Công ty Ống nước Hoa Kỳ là hai nhà cung cấp chính toàn bộ thiết bị và công nghệ để xây dựng hệ thống thủy lợi cho nông trại.

Trạm bơm nước của hệ thống thủy lợi nông trại

Giống, phân bón, thuốc trừ sâu cho các nông trại do các công ty dịch vụ nông nghiệp cung cấp. Hàng tuần, công ty vật tư đều cử chuyên gia đến nông trại cùng nông dân theo dõi sự phát triển của mùa vụ, phát hiện dịch bệnh và tư vấn biện pháp khắc phục kịp thời.

Để chủ động hơn trong nghề trồng lúa, các nông trại ở Arkansas chủ động liên kết và thành lập Ban Xúc tiến Nghiên cứu Gạo của Nông dân Arkansas- những người sáng lập Ban này đều là nông dân. Các chủ nông trại cùng nhau đóng góp một phần tiền bán lúa vào Quỹ Xúc tiến Nghiên cứu Gạo. Cứ 20kg thóc bán ra, chủ nông trại sẽ để dành 1,5 cents, (1 đô la Mỹ= 100 cents), tương đương với khoảng 300 đồng Việt Nam theo tỷ giá hiện tại) để đóng vào quỹ nghiên cứu.

Quỹ nghiên cứu được sử dụng để đặt hàng dịch vụ nghiên cứu ứng dụng cho nông dân trồng lúa Arkansas. Trung tâm Nghiên cứu và Khuyến nông, Bộ môn Nông nghiệp thuộc trường Đại học Arkansas là địa chỉ tin cậy cung cấp dịch vụ nghiên cứu ứng dụng phục vụ sản xuất lúa gạo. Các sản phẩm nghiên cứu được thực hiện dựa trên nhu cầu thực tế của nông dân, do nông dân đặt hàng, nên đều có tính ứng dụng thực tiễn cao. Để làm được điều này, cán bộ của Trung tâm phải thường xuyên cập nhật nhu cầu nghiên cứu của nông dân bằng nhiều hình thức: từ gặp gỡ và trao đổi trực tiếp tại nhà, trên đồng ruộng, đến ghi nhận thông tin thứ cấp qua Ban Xúc tiến Nghiên cứu của nông dân, thu thập ý kiến qua điện thoại, tổ chức điều tra về nhu cầu của nông dân.

Để được hỗ trợ tiếp thị và bán hàng, khoảng 60% nông dân ở Arkansas tham gia với tư cách thành viên của Công ty Chế biến và Kinh doanh Lương thực Riceland Food. Riceland Food hoạt động theo hình thức một hợp tác xã của nông dân. Lệ phí tham gia thành viên của Riceland Food là 1 đô la Mỹ/năm/nông dân. Riceland Food cung cấp dịch vụ tiếp thị sản phẩm cho gạo, đậu tương và lúa mỳ của 9000 nông dân thành viên ở các bang Arkansas, Louisiana, Mississippi, Missouri và Texas, và luôn nỗ lực tôn trọng quy tắc tối đa hoá giá thu mua lương thực cho các nông trại. Riceland Food bố trí một hệ thống kho bãi và điểm xuất khẩu dọc theo sông Mississippi.
Mỗi năm, Riceland Food thu nhận, dự trữ, vận chuyển, chế biến và bán ra khoảng 2,5 triệu tấn lương thực. Sản phẩm gạo của Riceland có chất lượng cao. Riceland Foods đầu tư toàn bộ quá trình sản xuất gạo khép kín: từ thóc, gạo lức, gạo trắng (đã xay xát) đến gạo đồ. Hiện tại, Riceland Food là hãng chế biến và kinh doanh gạo lớn nhất thế giới.

Riceland Food phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Nghiên cứu và Khuyến nông Arkansas trong kiểm tra chất lượng giống lúa mới, kiểm tra năng suất chế biến của gạo được trồng thử nghiệm từ những giống lúa mới, nhờ vậy giúp đảm bảo chất lượng các hoạt động nghiên cứu ứng dụng phục vụ khuyến nông cho các khách hàng nông dân Arkansas.

Hoàng Ngân - Theo Nụ Cười Việt

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

Một số hoạt chất đặc trị Rầy Nâu

LUAGAO - Để phòng trừ rầy nâu (môi giới truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá) hãy chọn những loại thuốc đặc trị, sử dụng đúng và nên luân phiên thuốc, để tránh việc dùng 1-2 loại thuốc gây ra tình trạng lờn thuốc, kháng thuốc và kém hiệu quả.


+ Hoạt chất fenobucard: Có tác động tiếp xúc, vị độc, thích hợp cho việc dập dịch khi rầy có mật độ cao. Thuốc diệt rầy non và rầy trưởng thành không diệt trứng nên hiệu lực thuốc không kéo dài. Nếu mật độ số rầy cao phải phun 2-3 lần, cách nhau 5- 7 ngày, hiệu quả sẽ cao hơn, phun ướt đều lên cây lúa tối thiểu 5 bình 8 lít/1.000 m2, phun định kỳ ở gốc lúa nơi rầy nâu trú ẩn, phun sớm khi rầy ở tuổi nhỏ (rầy cám).

+ Hoạt chất isoprocard: Tác động tiếp xúc, vị độc và xông hơi. Có hai dạng thuốc nhũ dầu và bột thấm nước. Hiệu lực trừ rầy non cao và nhanh, không diệt trứng. Nếu mật độ rầy cao phun 2- 3 lần. Liều dùng loại 20EC từ 2- 2,5 lít/ha, pha 40- 50ml thuốc/bình 8 lít, dùng 25WPtừ 1- 1,5kg/ha pha 20- 30g/bình 8 lít, phun tối thiểu 5 bình 8 lít/1.000 m2.

+ Hoạt chất Buprofezin: Có tác động ức chế sự hình thành chất kitin làm rầy chết trong thời kỳ lột xác. Hiệu lực 3-7 ngày và kéo dài trên 20 ngày.Thuốc làm giảm khả năng sinh đẻ và nở trứng, do không diệt rầy nên phải phun thuốc sớm lúc rầy 1- 2 tuổi. Liều dùng 10WP 1kg/ha, pha 20g thuốc/bình 8 lít.Phun tối thiểu 5 bình 8 lít/1.000m2, dùng 25SC (WP) là 0,5 lít(kg)/ha, pha 10ml (g)/bình 8 lít.

+ Hoạt chất etofenprox: Thế hệ mới, tác động tiếp xúc, vị độc. Hiệu lực trừ rầy cao, không gây sự tái phát rầy. Liều dùng 10EC là 0,75- 1 lít/ha, pha 15- 20ml thuốc/bình 8 lít, phun tối thiểu5 bình 8 lít/1.000 m2.

+ Hoạt chất imidacloprid: Tác động tiếp xúc, vị độc, nội hấp. Tiêu diệt nhanh rầy non và rầy trưởng thành. Có hai dạng thuốc nhũ dầu và bột thấm nước. Liều dùng 50EC 0,4- 0,5 lít/ha, pha 8-10ml thuốc/bình 8 lít, phun tối thiểu 5 bình 8 lít/1.000m2.

+ Hoạt chất thiamethoxam: Tác động tiếp xúc, vị độc và nội hấp mạnh, tiêu diệt rầy non, rầy trưởng thành và trứng mới nở. Liều dùng 25WDG từ 25- 80g/ha, pha tối thiểu 1g thuốc /bình 8 lít, phun 4 bình 8 lít/1.000 m2. Tuỳ thuộc mật số rầy và lúa kín hàng mà tăng lượng nước phun hiệu quả mới cao.

+ Hoạt chất buprofezin + fenobucard: Làm ung thối trứng, diệt rầy non lẫn rầy trưởng thành. Hiệu lực nhanh và kéo dài. Liều dùng 1- 1,2kg/ha, pha 20- 25g thuốc/bình 8 lít, phun tối thiểu 5 bình 8lít cho 1.000m2.

+ Hoạt chất buprofezin + isoprocard: Làm ung thối trứng, diệt rầy non lẫn rầy trưởng thành. Hiệu lực nhanh và kéo dài. Liều dùng 1,2- 1,5kg/ha, pha với 25- 30g thuốc/bình 8 lít, phun tối thiểu 5 bình 8 lít cho 1.000 m2.

(Nguồn NTNN)

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

SẢN XUẤT LÚA GẠO VIỆT NAM THÀNH TỰU & THÁCH THỨC

LUAGAO Giới thiệu tham luận: "SẢN XUẤT LÚA GẠO VIỆT NAM THÀNH TỰU & THÁCH THỨC"

BÙI CHÍ BỬU1, NGUYỄN THỊ LANG2

1Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam

2Viện Lúa Đồng Băng Sông Cửu Long

Trình bày tại Festival Lúa Gạo lần 01 tại Hậu Giang

Đọc và Download tại đây

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

CHỌN TẠO VÀ SẢN XUÂT GIỒNG LÚA LAI GÓP PHẦN GIỮ VỮNG AN NINH LƯƠNG THỰC Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM

LUAGAO - Giới thiệu

Báo cáo tham luận tại Hội thảo tư vấn “Định hướng nghiên cứu và phát triển lúa lai tại Việt Nam 2011-2020”, ngày 8/6/2011 do Bộ NN & PTNT chủ trì, tại VAAS" của PGS - TS

Nguyễn Thị Trâm, ĐHNN Hà Nội.


Download Tại đây


Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Phát triển lúa lai - Lợi thế và thách thức

LUAGAO - I. LỢI THẾ LÚA LAI
Do bản chất của con lai F1 là sự tổ hợp giữa hai dòng bố mẹ có đặc tính di truyền khác nhau nên cho ưu thế lai cao hơn các giống bố mẹ và các giống lúa thuần khác trong cùng điều kiện canh tác (sức sống hơn, hiệu suất quang hợp hơn, năng suất cao hơn và khả năng chống chịu điều kiện bất thuận tốt hơn).
Với quy trình công nghệ tối ưu sẽ khai thác tối đa tiềm năng năng suất của giống, nâng cao năng suất và tổng sản lượng để có thể thu hẹp diện tích gieo cấy mà vẫn đảm bảo nguồn lương thực cần thiết cho an ninh lương thực quốc gia. Nhưng để có các lợi thế trên chúng ta phải thoả mãn các điều kiện sau:
- Chọn tạo được tổ hợp có ưu thế lai cao.
- Dễ duy trì dòng bố mẹ (cho năng suất hạt bố mẹ cao).
- Dễ sản xuất hạt lai F1 (cho năng suất F1 cao).
- Xác định được vùng sinh thái, mùa vụ thích hợp cho SX bố mẹ và hạt F1 đạt năng suất cao và ổn định.
- Thiết lập được quy trình kỹ thuật SX lúa lai thương phẩm phù hợp để đưa năng suất thực tế tiếp cận năng suất tiềm năng (quy trình IPM, ICM…).

II. NHỮNG THÁCH THỨC
Nghiên cứu chọn tạo giống, các công nghệ nhân dòng duy trì được độ thuần di truyền, hạn chế trượt ngưỡng, SX hạt của lúa lai thuộc loại công nghệ cao nên đòi hỏi phải nắm bắt một số vấn đề sau:
Đặc tính di truyền của từng loại vật liệu sử dụng trong nghiên cứu (kiểu bất dục đực, dòng bố, dòng phục hồi R) trong lúa lai ba dòng và dòng cho phấn (dòng P) trong lúa lai hai dòng về khả năng kết hợp, khả năng và tỷ lệ thụ phấn chéo, tỷ lệ kết hạt và năng suất hạt lai.
Điều kiện để SX hạt lai đạt năng suất cao (độ phì của đất, chế độ ánh sáng, nhiệt độ (tổng tích ôn), số giờ mưa, ngày mưa trong giai đoạn trỗ bông nở hoa và độ ẩm không khí khi nở hoa thụ phấn thụ tinh, nhiệt độ không khí và sự chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm giai đoạn làm hạt và điều kiện thời tiết khi thu hoạch, công nghệ thu hoạch, chế biến, bảo quản và phân phối hạt giống sau thu hoạch).
Phải có quy trình công nghệ phù hợp cho nhân từng dòng bố, mẹ của mỗi tổ hợp để nhân và SX hạt lai F1 trong từng điều kiện sinh thái, điều kiện KT-XH cụ thể trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng gay gắt.

III. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SX VÀ NGHIÊN CỨU LÚA LAI Ở NƯỚC TA
Chương trình phát triển và nghiên cứu lúa lai sớm được Bộ NN-PTNT quan tâm tạo điều kiện. Từ năm 1992 hai tổ hợp lúa lai được đặt tên là HV1, HV2 được nhập nội và gieo trồng đánh giá tại Đan Phượng khi chúng ta chưa hề có nghiên cứu về lúa lai, hiểu biết của chúng ta về lúa lai còn rất hạn chế. Sau đó là sự đầu tư về kinh phí, về đào tạo đội ngũ dần dần được nâng lên và chương trình nghiên cứu lúa lai được ra đời với sự thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa lai cùng với các dự án TCP và sự có mặt của các chuyên gia quốc tế IRRI, Trung Quốc và Ấn Độ. Có thể nói suốt 20 năm qua kinh phí cho nghiên cứu tuy chưa thật nhiều nhưng không thiếu và SX luôn đi trước nghiên cứu, thành tựu nghiên cứu chưa đáp ứng và theo kịp SX do một số nguyên nhân sau:
Tổ chức hệ thống nghiên cứu tản mạn không tập trung, các nội dung nghiên cứu không được phân công cụ thể hoặc phân công nhưng không tuân thủ nghiêm túc trong các đơn vị tham gia nghiên cứu. Ví dụ giai đoạn đầu khi đề tài nghiên cứu lúa lai còn nằm trong chương trình nghiên cứu KN-01 đã được phân công Trung tâm nghiên cứu lúa lai - Viện KHKTNN Việt Nam tập trung nghiên cứu lúa lai 3 dòng, Viện Di truyền NN và ĐH Nông nghiệp Hà Nội tập trung vào hệ hai dòng nhưng sau đó không lâu sự phân công trên không được tuân thủ và ai muốn làm gì tuỳ thích dẫn đến sự trùng lặp trong khai thác vật liệu, nội dung nghiên cứu và giải pháp công nghệ trong nghiên cứu, nên đã lãng phí về thời gian, kinh phí và nguồn nhân lực.
Sự kiểm tra, đánh giá nghiệm thu không thường xuyên, thiếu cụ thể và sát sao.
Về các giải pháp (phương pháp công nghệ) trong nghiên cứu thì không được tiến hành theo thuyết minh, theo kế hoạch (hầu hết các thuyết minh/kế hoạch nghiên cứu tạo các dòng bố mẹ để tạo tổ hợp lai đều được liệt kê đầy đủ các phương pháp truyền thống và hiện đại như lai hữu tính, đột biến, lai xa, nuôi cấy bao phấn, quy tụ gen bằng Backross kết hợp với MAS thậm chí cả chuyển gen nhưng chúng ta không làm. Do vậy cho đến nay một số sản phẩm của các đề tài nghiên cứu như dòng bất dục, dòng phục hồi, dòng cho phấn… chưa thấy một sản phẩm nào là kết quả của việc sử dụng các giải pháp hiện đại mà các bản thuyết minh hay đăng ký đã liệt kê.
Trong 20 năm qua với sự cố gắng lớn chương trình nghiên cứu đã tuyển chọn được một số nguồn bất dục TGMS có nguồn gốc từ nước ngoài như T1S,96, Peiai 64SCL, 827S, 534S… đưa vào khai thác và sử dụng, chúng ta cũng đã chọn tạo được một số dòng bất dục như T70S, P5S và đã tạo được một số tổ hợp hai dòng ngắn ngày, năng suất khá, chất lượng khá tham gia vào cơ cấu vụ mùa như TH3-3, TH3-4, TH3-5, VL20, VL24, HYT100, HYT102, HC1. Nhưng đối với lúa lai 3 dòng, loại lúa này có vị trí quan trong trong vụ xuân vì cho năng suất cao hơn vụ mùa, ít nhiễm sâu bệnh thì các kết quả nghiên cứu trong nước trong suốt 20 năm qua vắng bóng các kết quả chọn tạo các dòng CMS và các tổ hợp lai 3 dòng ngoại trừ giống CT16. Điều này có lẽ do chúng ta chưa có đánh giá và nhận thức đúng đắn về vị trí của lúa lai 3 dòng tại Việt Nam hay vì chúng ta tránh sợ SX 3 dòng phức tạp hơn hệ hai dòng.
Việc chọn và duy trì các dòng TGMS nhập nội hoặc ta tự chọn tạo chưa được tuân thủ nghiêm ngặt và thường xuyên theo quy trình nên sự trượt ngưỡng và phân ly xảy ra rất lớn, chúng ta chưa có hạt giống siêu nguyên chủng thực sự của các dòng TGMS do vậy chất lượng các cấp hạt NC, XN không đảm bảo dẫn đến chất lượng hạt F1 không cao.
Nguồn nhân lực vừa thiếu, lại yếu và phân tán do vậy nhiệm vụ, mục tiêu và kết quả nghiên cứu không được giải quyết dứt điểm và hiệu quả. Chế độ đãi ngộ, khuyến khích đội ngũ nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu triển khai SX không rõ ràng và có sự sai khác lớn giữa các đơn vị nghiên cứu và triển khai lúa lai.
Việc tổng kết đánh giá kết quả nghiên cứu hàng năm, từng giai đoạn chủ yếu thực hiện theo kiểu trả bài theo mục tiêu và kết quả dựa vào bản thuyết minh do vậy nhiều loại sản phẩm như số dòng bất dục được chọn tạo, số dòng bố, số tổ hợp đã lai, số tổ hợp khảo nghiệm triển vọng, công nhận SX thử ít có ý nghĩa và rất khó mở rộng SX hoặc mất dần ngay sau khi đề tài nghiệm thu hoặc kết thúc.
Việc sử dụng và khai thác các điều kiện nghiên cứu một số nơi lãng phí, kém hiệu quả hoặc không chia sẻ ví dụ như hai phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia (phòng công nghệ gen và công nghệ tế bào), một số phòng nuôi cấy mô, buồng khí hậu nhân tạo (phytotron), dụng cụ quang học… có mua sắm nhưng không được sử dụng vào việc đánh giá ngưỡng hoặc thiết bị chưa hề dùng đã hỏng.

IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Nên tổ chức mạng lưới nghiên cứu lúa lai theo chương trình để tránh việc trùng lặp.
Xây dựng các chương trình nghiên cứu theo nhóm vấn đề, theo nhóm giải pháp để tránh việc trùng lặp, thực hiện tốt việc quản lý và chia sẻ vật liệu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu triển khai. Ví dụ nhóm tạo CMS, TGMS, nhóm sử dụng phương pháp lai truyền thống, nhóm dùng hợp tế bào trần, nhóm tạo dòng có chu trình C4, nhóm quy tụ gen của một số loài hoang dại hay tạo đa bội thể.
Cần đi đều cả hai hướng chọn tạo giống lúa lai 2 dòng và 3 dòng và xây dựng tiêu chí của sản phẩm các dòng bất dục theo tiêu chuẩn quốc tế như vậy mới có được các dòng mẹ ưu tú để có tổ hợp lai tương đương với các tổ hợp lai tốt của Trung Quốc đạt mức siêu cao sản.
Việc đánh giá, nghiệm thu cần tiến hành thường xuyên nghiêm túc đánh đánh giá đúng mức giá trị khoa học cũng như thực tiễn của sản phẩm của chương trình.
Nghiên cứu để xác định vùng ổn định, an toàn cho nhân dòng bố mẹ và SX F1 cho từng tổ hợp để giảm bớt rủi ro như thời gian qua.
Cần phát huy vai trò của các DN trong chương trình SX F1 trên các vùng đã được nghiên cứu và xác định nhưng phải có quy chế quản lý thống nhất đặc biệt là quy trình quản lý thống nhất trên mỗi vùng để có sự đồng nhất về các thủ tục hành chính trong giá cả, định mức cũng như tiêu chuẩn chất lượng hạt giống sau khi thu hoạch của các tổ hợp, các dòng được SX trên cùng một vùng.
Đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực ngắn hạn cũng như dài hạn để có một đội ngũ đủ mạnh và tích luỹ kinh nghiệm cho nghiên cứu và phát triển thành công lúa lai ở nước ta.

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2011

PGS - TS NGUYỄN THỊ TRÂM - NGUYÊN PHÓ VIỆN TRƯỜNG VIỆN SINH HỌC NÔNG NGHIỆP

LUAGAO - Sinh ra và lớn lên ở thị xã Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên - người con của mảnh đất này đã dùng sự kiên trì đáng khâm phục của mình để góp phần mang lại những thành công lớn trong ngành nghiên cứu khoa học nước nhà. Đó là PGS - TS Nguyễn Thị Trâm nguyên giảng viên Trường ĐH Nông nghiệp, nguyên phó viện trường Viện Sinh học nông nghiệp.

Trở thành kỹ sư nông nghiệp năm 1968, PGS - TS Nguyễn Thị Trâm công tác tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm của Bộ Nông nghiệp cho đến năm 1980. Ở đây, với việc nghiên cứu chọn tạo giống lúa, cô đã cùng đồng nghiệp chọn tạo thành công các giống lúa như: NN8 -388, NN23, NN9, NN10, NN75-6. Tất cả các giống lúa này đều được đưa vào ứng dụng trong sản xuất, trong đó giống lúa NN75-6 đã đem lại cho cô bằng tác giả sáng chế năm 1984.
Trong thời gian đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài trong 4 năm từ năm 1980 đến 1984 cô Trâm đã mang về tấm bằng góp thêm vào học vị của mình với việc thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu lúa lùn và sử dụng lúa lùn trong chọn tạo giống lúa thâm canh” tại Đại học Nông nghiệp Kuban và Viện Nghiên cứu Lúa toàn Liên Xô, Thành phố Kratsnodar ( Liên Xô cũ).

Sau khi về nước, trở thành Tiến sĩ Nông nghiệp PGS - TS Nguyễn Thị Trâm công tác tại trường Đại học Nông nghiệp 1. Cô làm cán bộ giảng dạy các bộ môn Di truyền – chọn giống Khoa Nông học của trường. Thời gian này cô Trâm đã cống hiến rất nhiều tâm lực của mình trong việc nghiên cứu, giảng dạy cũng như hướng dẫn các sinh viên làm đề tài tốt nghiệp. Trong số đó có rất nhiều tiến sĩ và thạc sĩ bảo vệ thành công luận án của mình và được tốt nghiệp với những tấm bằng loại ưu. Bên cạnh đó cô còn viết các giáo trình và sách tham khảo cùng giáo trình bài giảng cho cao học các chuyên ngành Trồng trọt, chọn giống. Cùng các đồng nghiệp, cô đã nghiên cứu chọn tạo thành công các giống lúa thuần như nếp thơm 44, tẻ 256, ĐH 104 và được đưa ra sản xuất.
Làm phó Viện trưởng viện sinh học Nông nghiệp và Trưởng phòng nghiên cứu ứng dụng ưu thế lai tại trường Đại học Nông Nghiệp 1 Hà Nội cho đến năm 2004 cô Trâm lĩnh sổ lương hưu trí. Sau khi nghỉ hưu cô vẫn muốn góp thêm sức lực và trí tuệ của mình để phục vụ cho ngành nghiên cứu khoa học nước nhà nên cô đã nhận lời mời tiếp tục làm Trưởng phòng Nghiên cứu ứng dụng ưu thế lai, và tiếp tục nghiên cứu để tạo ra các giống lúa mới. Viết thêm những tài liệu và giáo trình để phục vụ giảng dạy và hướng dẫn cho các học viên thực tập tốt nghiệp kiêm hướng dẫn nghiên cứu sinh…

Mười tỉ đồng, một giống lúa, và mười bảy năm nghiên cứu lúa lai. Nhìn cảnh cô Trâm đếm từng hạt lúa, bạn sẽ thấy 10 tỉ đồng chuyển giao công nghệ không hề nhiều. Trong chương trình Người đương thời, bạn sẽ được nghe cô Trâm tiết lộ bí quyết lúa lai của Việt nam. Và quan trọng hơn, bạn sẽ biết bí quyết thành công của cô: đó là đầu tư thời gian, và không bao giờ bỏ cuộc.

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011

Giống lúa lai C ưu đa hệ số 1

LUAGAO - C ưu đa hệ số 1 là loại giống lúa lai ba dòng mới do GS Tạ Sùng Hoa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lúa lai, Đại học KHKT Tây Nam (Trung Quốc) chọn tạo. Cty Giống cây trồng Tây Khoa (Tứ Xuyên) độc quyền sản xuất và kinh doanh. Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái độc quyền cung ứng tại Việt Nam. Giống lúa này đã được tỉnh Tứ Xuyên công nhận là giống lúa lai số 138 và được bảo hộ bản quyền.

Theo Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái, tổ hợp C ưu đa hệ số 1 có TGST vụ xuân 130 ngày, vụ mùa 110 ngày ở đồng bằng Bắc bộ VN. Cứng cây, lá đòng dài, đẻ nhánh khá; bông dài 27cm, khối lượng nghìn hạt 30g, cây cao 120cm, năng suất vụ xuân 76-84 tạ/ha, vụ mùa 68-73 tạ/ha, thâm canh cao có thể đạt 88-90 tạ/ha.

Tại Việt Nam, từ vụ xuân 2009 giống C ưu đa hệ số 1 đã được trồng khảo nghiệm tại một số tỉnh ĐBSH như Nam Định, Thái Bình, Hòa Bình. Ngày 8/10/2010 Cục Trồng trọt đã công nhận cho sản xuất thử. PGĐ Sở NN-PTNT Thái Bình, Trần Xuân Định cho biết kết quả khảo nghiệm sản xuất tại Tiền Hải cho thấy giống C ưu số 1 có tiềm năng năng suất cao nếu được đầu tư thâm canh đúng mức, tính chống chịu sâu bệnh khá. Thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nơi tiến hành khảo nghiệm. Tuy nhiên nhược điểm là bản lá to, dài cần thâm canh cân đối bón tăng kali, bón tập trung sớm để phòng chống bạc lá và khô đầu lá. Đẻ nhánh mức trung bình cần chú ý mật độ khi cấy. PGĐ Sở NN-PTNT Hòa Bình, Trần Bảo Toàn có chung nhận xét: C ưu đa hệ số 1 vụ xuân có khả năng chống chịu sâu bệnh và sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao từ 80-85 tạ/ha, chất lượng gạo khá…

Theo khuyến cáo của Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái, để đạt năng suất cao cần đảm bảo kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc. Cụ thể lượng giống cho 1 sào Bắc bộ (360m2) là 1kg. Gieo trồng vụ mùa sớm và xuân muộn ở vùng đồng bằng, trung du miền núi Bắc bộ và Bắc Trung bộ trên chân đất tốt, chủ động nước. Thời vụ xuân muộn gieo từ 21/1-5/2, cấy trong tháng 2 (vùng Đông bắc gieo đầu tháng 3, cấy trước 5/4), mùa sớm gieo từ 5-10/6, cấy từ 20/6-5/7. Mật độ cấy 40 khóm/m2, cấy 1 dảnh; yêu cầu cấy nông tay.

Mọi chi tiết xin liên hệ Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái. Địa chỉ: Ô 4, lô 4A, khu đô thị Đền Lừ, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Mai, Hà Nội. ĐT: 0436343141. DĐ: 0912091562. Fax: 0436343141

Nguồn: Báo NNVN

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Nhật cấm trồng lúa trên đất nhiễm phóng xạ

Chính phủ Nhật Bản hôm qua thông báo họ sẽ cấm nông dân trồng lúa trên những vùng đất nhiễm chất phóng xạ từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima I.

Phần lớn lúa mà Nhật Bản sản xuất được dùng để phục vụ nhu cầu của người dân trong nước. Ảnh: blogspot.com.
Phần lớn lúa mà Nhật Bản sản xuất được dùng để phục vụ nhu cầu của người dân trong nước. Ảnh: blogspot.com.

Lệnh cấm sẽ có hiệu lực đối với những khu vực nhiễm chất phóng xạ cesium (Cs). Chính phủ sẽ bồi thường cho những nông dân không trồng lúa trên ruộng nhiễm phóng xạ, AP đưa tin.

Từ khi sự cố xảy ra ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima I hôm 11/3 các chuyên gia mới chỉ phát hiện được đất nhiễm phóng xạ với nồng độ cao ở làng Iitate – nơi cách nhà máy Fukushima I khoảng 40 km.

“Chúng tôi phải ban hành chính sách thật nhanh bởi vì nông dân đang chuẩn bị cấy lúa. Tôi sẽ lắng nghe ý kiến của các chuyên gia và quan chức địa phương về cách phục hồi đất nhiễm phóng xạ”, Bộ trưởng Nông nghiệp Michihiko Kano phát biểu.

Vài ngày trước chính phủ Nhật Bản ban hành tiêu chuẩn về nồng độ phóng xạ an toàn trong cá sau khi các chuyên gia phát hiện nồng độ chất phóng xạ trong nước biển xung quanh nhà máy Fukushima I vọt lên mức cao kỷ lục.

Một nông dân
Một nông dân ở ngoại ô thành phố Fukushima, tỉnh Fukushima, Nhật Bản thăm ruộng rau vào ngày 5/4. Ảnh: AP.

Dư luận cũng lo ngại về mức độ nhiễm phóng xạ trong rau và sữa. Nhiều nước, trong đó có Trung Quốc, đã cấm nhập khẩu một số nông sản và hải sản từ Nhật Bản.

Giới chức Nhật Bản khẳng định lúa có xuất xứ từ những vùng bị nhiễm phóng xạ cũng sẽ được kiểm tra nghiêm ngặt. Nồng độ phóng xạ cho phép trong lúa sẽ tương đương với cá và rau. Giới hạn phóng xạ đối với đất trồng lúa cao gấp 10 lần mức đó bởi người ta lo ngại lúa sẽ hấp thụ Cs trong quá trình sinh trưởng.

Nhật Bản sản xuất 8,5 triệu tấn lúa trong năm 2010 và phần lớn sản lượng lúa phục vụ nhu cầu trong nước. Chỉ có khoảng 1.900 tấn được xuất khẩu.

(Theo vnexpress.net)

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Khắc phục lúa đông xuân phát triển chậm

LUAGAO - Tiết thanh minh (5/4) đang đến gần, đây là thời kỳ lúa đông xuân ở các địa phương miền Bắc đang trong giai đoạn từ cuối đẻ nhánh đến đứng cái - làm đòng. Thế nhưng năm 2011 này, tất cả diện tích lúa đông xuân đều sinh trưởng, phát triển chậm.

Phân bón là yếu tố dinh dưỡng quan trọng liên quan đến sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng lúa. Tuy nhiên, thời tiết khí hậu vẫn là yếu tố quyết định. Sở dĩ tất cả diện tích lúa đông xuân đang bị sinh trưởng, phát triển chậm là do: Sau khi gieo cấy xong, thời tiết diễn biến xấu, trời liên tục giá rét, nhiệt độ xuống thấp, biên độ nhiệt ngày và đêm cao, độ ẩm không khí lớn... đã khống chế quá trình hấp thu dinh dưỡng và sinh trưởng phát triển của cây lúa.

Cụ thể đi thăm đồng, nhìn cây lúa trên ruộng, chúng tôi khó phân biệt được ruộng nào đã bón thúc hoặc chưa bón; lúa cấy vẫn đang giai đoạn chúm đuôi gà, bé khóm, lúa gieo thẳng thì còn nguyên hình cây mạ. Bác Lai ở thôn Lương Gián, xã Quốc Tuấn (Nam Sách - Hải Dương) cho biết: “Cấy 1 sào giống Khang dân 18 bằng phương thức gieo mạ sân, lúc cấy mạ rất đẹp, sau đó đến nay đã rắc thúc tổng số 6 kg urê, 30kg phân bắc mục và 8 kg lân viên tổng hợp mà lúa vẫn chậm phát triển, có cảm giác như cây lúa bị mòn dần”. Các cụ lão nông cho biết: “Cây bàng bị thâm đen, chậm ra lộc; cây cao su ở miền núi bị chết là trời đã giá rét bất thường nhưng lại là dấu hiệu của một vụ lúa đông xuân được mùa”.

Để tránh tình trạng dư thừa dinh dưỡng, gây tốt lốp và sâu bệnh sau này hoặc dinh dưỡng không được cung cấp kịp thời, trong khi thời tiết còn diễn biến phức tạp, chúng tôi xin nêu một số biện pháp kỹ thuật khắc phục cùng dự báo nhỏ để bà con nông dân tham khảo và có thể áp dụng:

(Thông tin chi tiết xin theo dõi trên Báo NNVN số 63 ra ngày 30/3/2011)

Thứ Tư, 22 tháng 12, 2010

Muỗi hành hại lúa và biện pháp phòng trừ

LUAGAO - Muỗi hành (sâu năn) hoạt động mạnh, giao phối và đẻ trứng về đêm, mỗi con cái có thể đẻ từ 100-200 trứng.

Thời kỳ mạ muỗi hành đẻ rải rác trên các phiến lá ở gié, thời kỳ lúa đẻ nhánh chúng đẻ trên bẹ lá, cách mặt nước 30 cm. Trứng hình bầu dục dài, bề mặt trơn bóng, mới đẻ màu trắng sữa, sau chuyển sang màu đỏ tím.

Nhộng của muỗi hành có thể di chuyển lên xuống trong ống hành. Nhộng có màu da cam, đỉnh đầu có một đôi gai, lúc sắp hoá nhộng muỗi hành chuyển lên trên ngọn chui nửa mình ra, lột vỏ nhộng để lại trên đầu ống hành. Sâu non có 3 tuổi, màu trắng sữa, dịch cơ thể màu hồng nhạt. Mặt bụng ngực trước có một mẩu cứng chẻ đôi.

Muỗi hành phá hại lúa từ giai đoạn mạ đến giai đoạn cuối đẻ nhánh, khi bị tấn công đỉnh sinh trưởng biến dạng thành “cọng hành” (hay còn gọi ống hành). Khi ống hành đã vươn ra ngoài cũng là lúc sâu non đã hoá nhộng. Cần phân biệt triệu chứng thiệt hại do sâu đục thân và muỗi hành.

Với sâu đục thân đọt lúa cuốn tròn có màu xanh lúc đầu, sau đó những đọt này héo khô, nắm kéo lên thì đứt ra ngay, đó là do sâu ăn phá đọt non làm dưỡng chất và nước không di chuyển lên nuôi đọt được. Với muỗi hành là những ống tròn màu xanh lá cây nhạt, đó là bẹ lá bị biến dạng, phiến lá chỉ là một mảnh nhỏ ở đầu ống, nắm kéo lên không đứt, những ống này không chết đi nhưng làm chồi bị nhiễm không trổ bông được, những bụi lúa bị nhiễm lùn, đâm nhiều chồi, lá xanh thẫm, ngắn, dựng đứng, có nhiều cọng lúa giống như cọng hành lẫn trong bụi lúa.

Nhiệt độ ấm nóng và độ ẩm cao là điều kiện thích hợp cho muỗi hành phát sinh phát triển. Những năm mưa nhiều, có sương mù muỗi hành phát sinh phát triển mạnh; miền núi bị muỗi hành phá hại nặng hơn đồng bằng; ruộng lúa đủ nước bị phá hại nặng hơn ruộng hạn. Muỗi hành gây hại trong vụ mùa nặng hơn vụ xuân và mùa sớm nặng hơn mùa muộn. Bón phân không cân đối cũng là nguyên nhân để muỗi hành gây hại.

(Theo Báo NNVN)

Muỗi hành - Sâu năn (Rice stem gall midge)

Tên khoa học: Orseolia oryzae

Họ: Diptera

Bộ: Cecidomyidae

Triệu chứng

- Ầu trùng mới xâm nhập vào điểm sinh trưởng làm cho gốc dảnh lúa tròn và to lên. Ấu trùng ăn tại điểm sinh trưởng làm cho đọt lúa phát triển thành ống như lá hành, có màu xanh nhạt, phía đầu ống tròn được bịt kín bắng một nút cứng do mô lá tạo thành. Ống tròn có thể dài bằng lá dễ nhận hoặc rất ngắn khó phát hiện.

- Dảnh lúa bị biến thành ống hành sẽ không trỗ bông được nhưng có thể mọc thêm chồi mới để bù lại. Nếu bị nhiễm sớm khả năng đền bù cao, ít thiệt hại. Sâu chỉ gây hại lúa ở giai đoạn trước khi có đòng.

Đặc điểm hình thái

- Trưởng thành là loài muỗi nhỏ, dài khoảng 3-5mm, bụng màu hồng nhạt.

- Trứng đẻ rãi rác từng quả , rất nhỏ, màu trắng, trước khi nở có màu vàng.

- Ấu trùng giống như con dòi, mình dẹt, màu trắng sữa, dài 4-5mm.

- Nhộng màu hồng, dài 4-5mm, nằm trong ống hành.

Đặc điểm sinh học và sinh thái

* Vòng đời: 25-30 ngày

- Trứng: 3-4 ngày

- Sâu non: 15-18 ngày

- Nhộng: 4-5 ngày

- Trưởng thành: 2-3 ngày

Muỗi hoạt động về đêm, có xu tính rất mạnh với ánh sáng. Sức bay yếu nên sự phân bố thường có tính khu vực. Trứng đẻ riêng lẻ hoặc từng nhóm 3-4 cái ở phía dưới mặt lá gần gốc lúa. Mỗi con cái đẻ hàng trăm trừng. Trứng cần có ẩm độ cao (trên 80%) để phát triển và nở.

Ấu trùng mới nở có một thời gian ngắn khoảng 1-2 ngày sống trong nước, nếu không có nước trong vòng 24giờ ấu trùng sẽ chết, sau đó chui qua bẹ lá đục vào điểm sinh trưởng làm cho lá lúa mới mọc cuốn lại như lá hành, ấu trùng sống trong đó. Khi sắp hoá nhộng ấu trùng bò lên ngọn lá hành đục một lỗ nhỏ nằm ở đó và hoá muỗi.

Sâu năn phát triển thích hợp trong điều kiện thời tiết tương đối ẩm, có mưa và trời ít nắng. Thường phát sinh cục bộ trên một cánh đồng hoặc một vùng hẹp do khả năng di chuyển yếu của muỗi.

Biện pháp phòng trừ

- Dùng giống kháng sâu năn.

- Vệ sinh đồng ruộng, gieo cấy thời vụ đồng loạt.

- Bón đạm vừa phải, đúng lúc để lúa đẻ nhánh tập trung. Thay nước ruộng khi phát hiện trên ruộng có dảnh bị hại.

- Sâu năn có nhiều loại thiên địch, nhất là loài ong ký sinh trên sâu non. Thường sau một đợt sâu năn phát sinh rộ mật độ ký sinh cũng tăng làm giảm hẳn mật độ sâu của lứa sau do đó khi sử dụng thuốc phòng trừ cần chú ý đặc điểm này.

- Dùng thuốc hoá học dạng hạt để rải cho ruộng mạ hoặc nhúng rễ mạ vào dung dịch thuốc trước khi cấy. Khi phát hiện có nhiều dảnh bị hại có thể rải thuốc hạt để phòng trừ.

(Theo Chi Cục BVTV TP.HCM)

BÁO NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM - KHOA HỌC KỸ THUẬT

BÁO NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM - KHUYẾN NÔNG

NÔNG THÔN MỚI - BÁO DÂN VIỆT