=== TÌM KIẾM THÔNG TIN LÚA GẠO ===
=== BÀI VIẾT MỚI NHẤT ===
=== BÀI ĐĂNG PHỔ BIẾN ===
-
I . Bệnh vàng lá do vi khuẩn 1) Mức độ xuất hiện trên đồng ruộng · Đồng đều khắp ruộng. · Lây lan rất nhanh 2) Tình trạng ruộng lúa · Ruộng ...
-
LUAGAO - Theo báo cáo của Trung tâm BVTV phía Nam, tính đến ngày 25/01/2010 thì: - Lúa Thu Đông-Mùa 2009: Cơ bản thu hoạch xong , còn một...
-
KS. Nguyễn Chí Công (Tổng hợp) BÀI 01: RẦY NÂU 1. Mô tả Rầy nâu - Rầy trưởng thành cánh dài xâm nhập vào ruộng lúa và đẻ trứng trên các bẹ l...
-
LUAGAO - Bước vào vụ lúa HT bà con nông dân lại quan tâm đến việc làm đất, chọn giống và bón phân. Vừa qua, tại Đồng Tháp, Trung tâm KNKN qu...
-
KS. Nguyễn Chí Công (Muốn tìm hiểu thêm về Lúa lai xin liên hệ Email chicong1002@gmail.com ) 1. Lúa lai là gì? Lúa lai khác với Lúa thuần ở ...
=== CHUYÊN ĐỀ VỀ CÂY LÚA ===
- BỆNH VÀNG LÙN TRÊN LÚA
- HYBRID RICE FOR FOOD SECURITY
- HYBRID RICE TECHNOLOGY FOR FOOD SECURITY IN THE WORLD
- KHOA HỌC KỸ THUẬT - BÁO NÔNG NGHIỆP
- KHUYẾN NÔNG - BÁO NÔNG NGHIỆP
- KỸ THUẬT THÂM CANH LÚA Ở HỘ NÔNG DÂN (PDF)
- KỸ THUẬT TRỒNG LÚA CHẤT LƯỢNG CAO
- LÚA LAI Ở ẤN ĐỘ
- NGUỒN GỐC CÂY LÚA
- NGÂN HÀNG KIẾN THỨC TRỒNG LÚA (NEW)
- QUY TRÌNH KỸ THUẬT SAU THU HOẠCH LÚA
- TÀI LIỆU KỸ THUẬT VỀ LÚA
- VĂN MINH LÚA NƯỚC
=== DOWNLOAD TIỆN ÍCH NÔNG NGHIỆP ===
- BỆNH ĐẠO ÔN HẠI LÚA
- BỘ DỤNG CỤ KIỂM TRA NHANH DƯ LƯỢNG THUỐC BVTV - “GT” PESTICIDE TEST KIT
- CANH TÁC RAU AN TOÀN THEO HƯỚNG "GAP"
- CÁC LOẠI SÂU BỆNH MỚI NĂM 2009
- HƯỚNG DẪN TRA CỨU SỐ LIỆU TẠI WEBSITE "FAO"
- HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CÂY LÚA
- KHOA LUẬN LÚA LAI - NH GIA LAI - ĐH NÔNG LÂM TP. HCM
- LUẬN VĂN "THANH LỌC TÍNH CHỐNG CHỊU MẶN CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CAO SẢN NGẮN NGÀY TẠI VIỆN LÚA ĐBSCL - DƯƠNG KIM LIÊN
- LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC - ĐH NÔNG LÂM TP HCM - LÚA LAI - NGUYỄN CHÍ CÔNG - 2008
- PHẦN MỀM THỐNG KÊ - MSTATC
- RẦY NÂU NHỎ
- RẦY NÂU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ - BÁO CÁO POWER POINT
- TRIỆU CHỨNG THIẾU DINH DƯỠNG TRÊN MỘT SỐ CÂY TRỒNG
- ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC CHẤT KÍCH KHÁNG PHÒNG TRỪ NẤM BỆNH HẠI LÚA - KLTN DH NN1 NGÀNH BVTV
=== TÌM BÀI ĐĂNG THEO CHUYÊN ĐỀ ===
Thứ Hai, 13 tháng 5, 2013
Phân bón cho lúa vụ hè thu
Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012
Nỗi lo trước vụ lúa hè thu 2012
Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012
11 BƯỚC CANH TÁC LÚA BỀN VỮNG THEO QUY TRÌNH HỢP TRÍ
Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012
Vui Tết không quên ruộng đồng: Đề phòng dịch hại lúa ĐX
LUAGAO - Cho đến tuần đầu tháng 1/2012, ĐBSCL vẫn còn một vài địa phương chưa gieo sạ xong vụ lúa ĐX. Phần lớn diện tích đất lúa chậm trễ gieo sạ thuộc vùng chân ruộng sâu, hạ tầng thủy lợi không đảm bảo chủ động bơm tát.
Theo dự đoán ban đầu của Sở NN-PTNT các tỉnh trong vùng, ảnh hưởng lũ năm 2011 khá lớn, nước rút chậm và tác động triều cường biển Đông nên lúa vụ ĐX xuống giống trễ hơn lịch thời vụ. Tại Cần Thơ, đến cuối tháng 12/2011, nông dân mới gieo sạ khoảng 88.000 ha. Đợt gieo sạ sớm tại vùng thủy lợi chủ động nguồn nước, đến nay lúa đã gần 2 tháng tuổi. Ước có khoảng 60.000 ha lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh và khoảng 2.000 ha làm đòng.
Để đề phòng dịch bệnh hại lúa xảy ra ngày giáp tết, Sở NN-PTNT Cần Thơ triển khai phân công cán bộ nông nghiệp, trạm BVTV các quận huyện trực, theo dõi tình hình sâu bệnh và khuyến cáo nông dân thường xuyên thăm đồng.
TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL cho biết: Theo kế hoạch vụ lúa ĐX, ĐBSCL trồng 1.550.000 ha, đến ngày 10/1/2012 tiến độ xuống giống đạt hơn 95%, còn hơn 60.000 ha vẫn tiếp tục xuống giống. Các địa phương khuyến cáo lịch xuống giống lúa ĐX sớm bắt đầu từ đầu tháng 10/2011, vào tháng 11 tập trung gieo sạ cao điểm đồng loạt và đến đầu tháng 12 kết thúc.
Tuy nhiên vụ lúa ĐX năm nay nước lũ rút chậm, nhiều vùng nội đồng nước còn ngập sâu, đến tháng 11/2011 tiến độ xuống giống chỉ đạt 50%, phần diện tích còn lại gieo sạ trong tháng 12/2011 và dự tính trễ lắm đến đầu tháng 1/2012 xuống giống dứt điểm.
Việc xuống giống chậm trễ khiến ngành nông nghiệp các tỉnh lo lắng. Nông dân canh tác ở những vùng lúa xuống giống chậm có thể phải đối phó với hạn, mặn xâm nhập giai đoạn cuối vụ; ảnh hưởng tới bố trí lịch thời vụ cho vụ HT, lúa vụ 3 trong năm.
Thế nhưng mùa lũ cũng đem lại lợi ích cho vùng đất lúa hai bên sông Tiền, sông Hậu. Lũ mang phù sa màu mỡ tưới tắm đồng ruộng nên lúa phát triển tốt. Ngành nông nghiệp một số địa phương khuyến cáo nông dân sử dụng hạn chế các loại phân đạm, chỉ bón ở mức hợp lý và không nên lạm dụng chất kích thích, phân bón lá.
Thời tiết những ngày cận tết se lạnh, một số nơi có sương sớm buổi sáng dễ gây bệnh đạo ôn, cháy bìa lá. Hiện nay bệnh đạo ôn lá xuất hiện ở hầu hết các tỉnh trong vùng với diện tích nhiễm là 22.720 ha, giảm 14.752 ha so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ nhiễm bệnh phổ biến 5-10%, nơi cao trên 20%. Các tỉnh xuất hiện bệnh đạo ôn lá phổ biến như Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Long An, Bạc Liêu…
Về bệnh đạo ôn cổ bông, có 8.653 ha nhiễm bệnh, giảm 748 ha so cùng kỳ năm trước, tỷ lệ nhiễm bệnh phổ biến 5-10%, nơi cao tỷ lệ trên 20%. Bệnh này xuất hiện ở các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh…
Bệnh ốc bươu vàng tưởng chừng sau lũ lớn về sẽ sinh sôi nhiều, nhưng đến nay chỉ có 20.665 ha nhiễm ốc bươu vàng, giảm 14.257 ha so với cùng kỳ năm trước, với mật số phổ biến 2-4 con/m2, nơi cao trên 6 con/m2 (500 ha). Ốc bươu vàng xuất hiện và gây hại phổ biến ở các tỉnh Long An, Vĩnh Long, Kiên Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh, Hậu Giang… Bên cạnh đó, bệnh sâu cuốn lá nhỏ có 11.650 ha bị nhiễm, giảm 7.082 so với cùng kỳ năm trước, mật số phổ biến từ 10-20 con/m2, nơi cao trên 40 con/m2 (100 ha).
Các tỉnh xuất hiện sâu cuốn lá nhỏ là Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu… Ngoài ra, một số đối tượng dich hại khác như bệnh bạc lá (9.126 ha), bệnh đốm vằn (6.458 ha), bệnh lem lép hạt (5.354 ha), chuột (4.660 ha), sâu đục thân (2.687 ha).
Ông Trần Ngọc Thể, Phó Chi cục trưởng Chi cục BVTV Hậu Giang cho biết: Tổng diện tích lúa ĐX bị nhiễm các loại dịch hại trên 8.700 ha, tăng 3.394 ha. Trong đó 4.325 ha nhiễm rầy nâu, 2.479 ha nhiễm bệnh đạo ôn, 1.169 ha bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại và một số sâu bệnh khác.
Dự báo trước Tết Nguyên đán còn một đợt rầy nở, do đó bà con nông dân cần cảnh giác, đề phòng sâu rầy tấn công trên diện rộng. Mặt khác, thời tiết se lạnh là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát triển mạnh và gây hại trà lúa ở giai đoạn đẻ nhánh. Vì vậy khi phát hiện trên đồng ruộng có vết chấm kim, bà con nên sử dụng các loại thuốc đặc trị đạo ôn để phòng trừ. Ngoài ra, trà lúa ĐX đã xuất hiện bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên giống lúa IR 50404 làm 43 ha nhiễm bệnh.
Ở Vĩnh Long rầy nâu đã xuất hiện nhưng mật độ còn trong vòng kiểm soát, trong khi đó bệnh đạo ôn đang có chiều hướng tăng. Hiện tại, đã có trên 1.044 ha lúa ở giai đoạn đẻ nhánh, đòng trỗ tại các huyện Long Hồ, Mang Thít, Trà Ôn và Vũng Liêm bi bệnh đạo ôn với tỷ lệ từ 6-14%. Bệnh đang tiếp tục phát sinh và gây hại trên trà lúa gieo trồng giống nhiễm, sạ dầy, bón thừa phân đạm.
Chi cục BVTV Vĩnh Long khuyến cáo nông dân bám sát đồng ruộng, phát hiện sớm bệnh để phòng trị kịp thời. Khi bệnh chớm xuất hiện có thể sử dụng một trong các loại thuốc đặc trị phun xịt theo “4 đúng”. Bệnh đạo ôn trên bông có thể phòng ngừa bằng cách xử lý thuốc đặc trị trước và sau trổ 7 ngày. Mặt khác cần bón phân cân đối giúp cây lúa khỏe, tăng cường bón phân kali cho lúa cứng cây, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện bất lợi của thời tiết. Hạn chế tối đa việc phun các loại thuốc gốc lân hữu cơ phổ rộng hoặc thuốc có gốc cúc tổng hợp trừ sâu ăn lá, để bảo tồn thiên địch. Tùy theo sự xuất hiện và gây hại của từng đối tượng mà có biện pháp xử lý phù hợp. Các trạm BVTV phải theo dõi tình hình dịch bệnh và báo cáo trước 14 giờ hàng ngày về Chi cục, Sở NN- PTNT, Trung tâm BVTV phía Nam và Cục BVTV, Cục Trồng trọt.
| Cục BVTV cảnh báo hiện nay trong toàn vùng ĐBSCL có 41.881 ha lúa bị nhiễm rầy, tăng 10.094 ha so với cùng kỳ năm trước, với mật độ trung bình 1.000-2.000 con/m2, nơi cao trên 3.000-6.000/m2 (khoảng 4.899 ha). Rầy nâu xuất hiện tập trung ở Bạc Liêu, Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Vĩnh Long. Bệnh VL, LXL trong vùng cao điểm có 48,5 ha bị nhiễm, tăng 48,5 ha so với cùng kỳ, chủ yếu ở Hậu Giang, Đồng Tháp. |
Tại Đồng Tháp, rầy nâu đã xuất hiện và gây hại 707,5 ha lúa giai đoạn đẻ nhánh, đòng trổ và hiện đã có 15 ha nhiễm nặng, mật độ 3.000- 5.000 con/m2; 114 ha nhiễn trung bình, mật độ 1.500 - 3.000 con/m2, còn lại nhiễm nhẹ. Ngoài ra, bệnh đạo ôn trên lá đã gây hại 3.425 ha lúa giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng; trong đó có 10 ha nhiễm trung bình. Bệnh VL-LXL đã xuất hiện và gây hại rải rác. Ngành nông nghiệp tỉnh này khuyến cáo không phun thuốc trừ sâu cho lúa dưới 40 ngày sau sạ nhằm hạn chế ảnh hưởng thiên địch, tránh bộc phát dịch hại ở giai đoạn sau.
Ông Nguyễn Hữu An, Chi cục trưởng Chi cục BVTV An Giang cho biết: Trong những ngày nghỉ tết bệnh đạo ôn có khả năng phát triển và giống IR 50504 là dễ nhiễm nhất. Chính vì vậy đối với những trá lúa trên những cánh đồng xả lũ cần bón phân cân đối, tránh để dư đạm. Vụ ĐX 2011- 2012 xuống giống trễ hơn 15- 20 ngày so với cùng kỳ năm trước nên trà lúa làm đòng và trổ rơi vào những ngày tết.
Hiện nay, bên cạnh công tác phòng chống dịch hại, Sở NN-PTNT các tỉnh trong vùng cho biết đang chuẩn bị khắc phục hiện tượng thiếu nước, xâm nhập mặn cuối vụ ĐX 2011-2012 và đầu vụ HT sớm 2012 ở các huyện thuộc vùng ven biển; đồng thời khuyến cáo nông dân thăm đồng thường xuyên phát hiện và quản lý kịp thời các đối tượng rầy phấn trắng, nhện gié, muỗi gây lá hành, đạo ôn cổ bông. Với diễn biến thời tiết khá thuận lợi và hoạt động kiểm soát phòng chống dịch hại tốt, kỳ vọng vụ lúa ĐX tiếp tục thắng lợi lớn.
| Ông Phạm Văn Quỳnh (ảnh), GĐ Sở NN-PTNT Cần Thơ: Không chủ quan, lơ là Đến thời điểm này diện tích xuống giống vụ lúa ĐX ở Cần Thơ là 88.000 ha, đạt 100% kế hoạch. Mặc dù năm nay đất được tăng lượng phù sa do lũ lớn, giúp lúa phát triển nhanh, tốt nhưng cũng rất dễ tạo cơ hội cho sâu bệnh và rầy nâu tấn công trong những ngày tết. Ngành nông nghiệp khuyến cáo bà con nông dân, trong những ngày vui xuân đón tết không nên lơ là thăm đồng ruộng để đảm bảo thắng lợi vụ lúa ĐX. Qua tết, Cần Thơ sẽ thu hoạch khoảng 1.000 ha lúa ĐX sớm. Hiện nay, giá lúa trên 5.000 đ/kg, đảm bảo nông dân có thể lãi trên 30%. Hy vọng đầu năm mới Nhâm Thìn giá lúa tăng cao hơn. Ông Đoàn Chí Vững, PGĐ Sở NN-PTNT Đồng Tháp: Phòng ngừa là chính Vụ lúa ĐX năm nay lịch xuống giống có trễ hơn so với các năm, nhưng đến thời điểm này tỉnh Đồng Tháp đã xuống giống hoàn tất (trên 207.500 ha). Đồng Tháp là tỉnh đầu nguồn nên bị thiệt hại nhiều do lũ nhưng bù lại lũ cũng giúp bà con nông dân giảm được chi phí phân bón rất lớn trong vụ ĐX này. Năm nay lịch nghỉ tết khá dài so với mọi năm. Chúng tôi luôn khuyến cáo bà con nông dân không được chủ quan trong những ngày tết. Trong chăm sóc lúa phải giảm bón phân đạm. Nếu bón thừa đạm sẽ dẫn đến cây đổ ngã, năng suất kém. Thông thường hàng năm vụ lúa ĐX có đợt rầy nâu bùng phát, nếu không kịp thời phát hiện ngăn chặn sẽ dễ bị cháy rầy. Chính vì vậy biện pháp phòng ngừa được đặt lên hàng đầu. Ông Nguyễn Văn Đồng (ảnh), GĐ Sở NN-PTNT Hậu Giang: Coi chừng rầy nâu Đến thời điểm này nông dân Hậu Giang đã hoàn thành việc xuống giống 77.000 ha lúa ĐX theo kế hoạch. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số diện tích nhỏ lẻ, điều kiện khó khăn không thể xuống giống tập trung theo lịch thời vụ, nông dân đang tiếp tục gieo sạ, nhiều khả năng diện tích lúa ĐX 2011-2012 của tỉnh sẽ đạt 80.000 ha. Nhìn chung, trà lúa gieo sạ tâp trung trong tháng 11 và 12 hiện đang phát triển rất tốt, ít sâu bệnh, bà con đang tích cực chăm bón để ra giêng sẽ có vụ mùa bội thu. Về tình hình dịch bệnh trên lúa, tới thời điểm này đã phát hiện 43 ha lúa bị bệnh VL-LXL, chủ yếu ở giống IR 50404, với mức độ gây hại từ 5-10%, tập trung ở TP Vị Thanh. Ngành đã hướng dẫn bà con cách xử lý để tránh lây lan. Toàn tỉnh hiện có trên 4.000 ha lúa bị nhiễm rầy với mật độ trung bình. Năm nay thời gian nghỉ tết dài nên ngành khuyến cáo bà con nông dân nên thường xuyên thăm đồng, để kịp thời phát hiện và phun thuốc phòng trừ. Riêng đối với các ngành chuyên môn như BVTV, Thú y… chúng tôi chỉ đạo phải phân công người túc trực 24/24 để nắm bắt tình hình dịch hại trên địa bàn, khuyến cáo, hướng dẫn bà con cách xử lý khi có dịch bệnh xảy ra. Ông Trần Quang Giàu, Chi cục trưởng Chi cục BVTV Kiên Giang: Dịch bệnh rất dễ xảy ra Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, trong dịp Tết Nguyên đán sẽ có đợt thời tiết lạnh kéo dài, đây sẽ là cơ hội tốt để một số dịch bệnh trên lúa bùng phát mạnh như: đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông. Trong khi đó, tết năm nay thời gian nghỉ dài, nông dân thường ít đi thăm đồng vào những ngày này nên nguy cơ dịch bệnh rất dễ xảy ra. Vì vậy, ngành khuyến cáo nông dân phải thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm dịch bệnh và phòng trị kịp thời. Nếu ruộng lúa đã nhiễm hai loại bệnh nói trên thì phải ngưng ngay việc bón phân đạm, bơm nước trên ruộng đầy đủ theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa và chọn các loại thuốc đặc trị để phun xịt. Đối với các giống lúa nhiễm bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông cần chủ động phun thuốc vào giai đoạn trước và sau khi trổ để phòng ngừa. Trong suốt thời gian nghỉ tết, Chi cục sẽ phân công cán bộ theo dõi, điều tra sâu bệnh trên đồng ruộng định kỳ để kịp thời xử lý. Đ.T.Chánh - L.H.Vũ |
Theo: Báo NNVN
Thứ Ba, 3 tháng 1, 2012
Quản lý chồi hữu hiệu cho lúa Đông Xuân
LUAGAO - (Diễn giả: PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ - ĐH Cần Thơ; ThS Phan Văn Tâm, Cty CP Phân bón Bình Điền, KS Lê Thị Thủy, Chi cục BVTV Đồng Tháp)
SẠ DÀY HAY SẠ THƯA?
Một số nông dân băn khoăn đặt câu hỏi: Xưa cha ông nói “Cấy thưa thừa thóc, cấy dày thì cóc được ăn”. Trong điều kiện sản xuất ngày nay câu nói trên liệu còn đúng? Đúng trong điều kiện nào?
Theo các nhà khoa học, "ba giảm ba tăng" là một tiến bộ kỹ thuật của Bộ NN-PTNT mới được đưa ra áp dụng đại trà hơn 10 năm nay. Trong 3 giảm thì giảm đầu tiên là giảm lượng lúa giống gieo sạ. Trước đây người dân ĐBSCL có thói quen sạ dày, lên đến 200, thậm chí 250 kg lúa giống/ha. Khuyến cáo mới trong 3 giảm 3 tăng là chỉ cần sạ 80 – 100 kg giống, nếu vụng thì cũng không nên quá 120 kg. Sau hơn 10 năm chuyển giao, diện tích áp dụng 3 giảm 3 tăng hiện đã lên tới khoảng 600.000 – 700.000 ha. Tuy nhiên nhiều nông dân vẫn phớt lờ, trong đó có không ít là nông dân sản xuất giỏi.
Lý luận của những nông vẫn sạ dày là họ không cần lúa đẻ nhánh, mỗi hạt lúa giống chỉ cần 1 cây cho 1 bông, bông đó vừa to vừa dài hơn là bông của nhánh nên sẽ hiệu quả hơn, còn bông của nhánh do có thời gian sinh trưởng ngắn hơn nên bông sẽ kém to, kém dài, lép nhiều.
Theo tính toán, để đạt năng suất khoảng 7-8 tấn/ha (năng suất này đã phát huy hết tiềm năng của giống) với lúa vụ đông xuân cần 600 bông cho mỗi m2, vụ hè thu cần 500 bông/m2. Một thực nghiệm cho thấy giai đạn lúa từ 30-40 ngày thì mỗi m2 có trên 1.000 cây và nhánh nhưng đến khi trổ đòng chỉ còn lại 600 do lúa tự hủy bớt chồi. Nếu sạ 100 kg giống/ha, thì mỗi m2 có 400 hạt, nếu sạ 150 kg giống thì mỗi m2 có 600 hạt, nếu sạ 200 kg thì có 800 hạt. Tỷ lệ nảy mầm của giống đạt bình quân 85%.
Như vậy, nếu không cho lúa đẻ nhánh thì việc sạ dày với lượng giống từ 175 – 200 kg/ha là hợp lý. Tuy nhiên việc để mật độ lúa dày xúm xít ngay từ đầu thì có 2 trở ngại, một là mặt ruộng quá rậm rạp (mỗi cây có 6 lá) nên sẽ có nhiều sâu bệnh, hai là rất tốn phân vì phải nuôi nhiều chồi vô hiệu (vì lúa vẫn đẻ nhánh nhưng sau nhánh con mới tự chết đi). Qua nhiều so sánh thực nghiệm, ở nhiều vùng, quốc gia khác nhau, các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế IRRI mới kết luận rằng: Với giống lúa ngắn ngày, hiệu quả nhất là mỗi cây lúa lấy một bông chính và 2 bông nhánh và mật độ sạ từ 80 – 100 kg giống/ha sẽ mang lại hiệu quả cao nhất.
QUẢN LÝ CHỒI HỮU HIỆU
Cây lúa sẽ bắt đầu đẻ nhánh (ra ngạnh trê) khi được 5-6 lá, cứ 3 ngày thì ra một lá, ứng với 18-20 ngày sau sạ. Khi mới đẻ, thì cây mẹ phải nuôi nhánh nên cần phải bón phân lần 1 kịp thời vì nếu thiếu dinh dưỡng thì nhánh sẽ bị yếu ớt sau này không đạt năng suất. Thuật ngữ bón thúc đẻ nhánh là không chính xác vì dù muốn hay không thì lúa đã đẻ nên cần đổi lại là Bón nuôi nhánh.
Trên thực tế, việc một số nông dân vẫn duy trì sạ dày còn do yếu tố khách quan, đó là những ruộng không có mặt bằng tốt và có khi còn bị ốc bươu vàng tấn công. Bởi vậy cũng không nên cứng nhắc là đâu đâu cũng phải sạ 80-100 kg giống/ha mà còn phải tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể sao cho đến khi lúa trổ thì phải đạt 600 cây/m2 với vụ đông xuân và 500 cây/m2 với vụ hè thu.
Nếu để lúa đẻ nhánh nhiều, đẻ lai rai thì năng suất sẽ không đạt, bởi vậy điều cần thiết là phải biết quản lý sao cho mỗi cây lúa có 2 chồi mạnh khỏe. Để hạn chế việc lúa đẻ lai rai, ngoài đặc tính giống cần phải bón phân nuôi chồi đúng thời điểm và bón cân đối cả đạm, lân và kali. Việc dư thừa phân đạm trong giai đoạn này sẽ mang đến hiện tượng lúa đẻ lai rai và sinh ra nhiều chồi vô hiệu.
Việc sử dụng nước ngập để ngăn ngừa lúa đẻ nhánh nhiều lai rai cũng là một giải pháp, nhưng trên thực tế giải pháp này không có tính khả thi vì muốn hạn chế lúa đẻ thì độ ngập nước phải từ 30 cm trở lên. Tuy nhiên, bà con nông dân hãy yên tâm vì khi lai tạo giống, các nhà khoa học đã đưa tiêu chí đẻ ít vào mục tiêu của lai tạo nên các giống lúa được phổ biến hiện nay đều không có khả năng đẻ nhiều. Cũng từ thực nghiệm, các nhà khoa học mới khuyến cáo là sau khi đẻ nhánh cần giảm dần mực nước để cho rễ lúa có điều kiện phát triển, ăn sâu và vững chắc.
Sạ với mật độ 80-100 kg giống/ha là lý tưởng cho việc tạo tiền đề cho năng suất cao và giảm chi phí. Muốn vậy phải có sự chuẩn bị chu đáo là trang bằng mặt ruộng, phòng trừ OBV, chọn giống, cảnh giác với ngộ độc hữu cơ. Ngoài ra còn phải chú ý đến dinh dưỡng. Bà con ĐBSCL không có tập quán bón lót nên việc bón phân đợt 1 (7-10 ngày sau sạ) và bón phân đợt 2 (18-20 ngày sau sạ) là cực kỳ quan trọng.
Cả 2 lần bón này đều có yêu cầu bón vừa đủ và cân đối tỷ lệ NPK, trong đó nhu cầu về N là khá cao. Việc sử dụng phân bón chuyên dùng cho giai đoạn này tỏ ra thuận tiện và hiệu quả. Sản phẩm NPK Agrotain + TE Lúa 1 của Bình Điền được nông dân tin dùng bởi nó đáp ứng được nhu cầu tăng năng suất, giảm chi phí nhờ vào việc nuôi chồi lúa khỏe mạnh ngay từ đầu.
Theo: Báo NN Việt Nam
Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011
Thời vụ, cơ cấu giống lúa ĐX tại Nam Trung bộ
LUAGAO - Các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB) sản xuất nông nghiệp và dịch vụ vẫn chiếm ưu thế. Đây là vùng thường xuyên gánh chịu những đợt thời tiết khí hậu khắc nghiệt đã ảnh hưởng rất lớn đến SXNN. SX lúa gạo có tầm quan trọng đặc biệt đảm bảo ANLT, ổn định đời sống cho người dân trong vùng.
Sản xuất lúa vụ đông xuân ở Nam Trung bộ có nhiều lợi thế như thời gian sản xuất kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau nên cây lúa có điều kiện tích sinh trưởng và lũy chất khô vào các bộ phận kinh tế để đạt năng suất cao. Trong khi nền nhiệt độ tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ, biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch nhau khá cao từ 6-12oC; cường độ ánh sáng dồi dào, nhất là vào cuối vụ; cường độ bốc hơi nước thường thấp hơn vụ hè thu đã giúp cho cây lúa tích lũy chất khô về hạt rất tốt, khả năng đạt năng suất cao nhất trong năm là có cơ sở.
Tuy vậy, thực trạng sản xuất lúa vụ đông xuân tại các tỉnh trong vùng thường không ổn định, nhiều nơi mất mùa cục bộ, cụ thể kết quả điều tra tình hình sản xuất lúa trong 11 năm từ 2000-2010 tại các tỉnh trong vùng cho thấy số vụ đông xuân năng suất thấp và bấp bênh như sau: Đà Nẵng có 5/11 vụ, Quảng Nam 3/11 vụ, Quảng Ngãi 4/11 vụ, Bình Định 5/11 vụ; Phú Yên 4 /11 vụ và Khánh Hòa 7/11 vụ.
Nguyên nhân chính là do một số địa phương còn sử dụng cơ cấu 3 vụ lúa/năm nên đã co kéo về thời gian, hoặc cơ cấu 2 vụ lúa/năm nhưng do bố trí không đúng lịch thời vụ gieo sạ, thường nôn nóng đẩy thời vụ đông xuân lên sớm để kịp sạ lúa vụ 3 và sử dụng không đúng cơ cấu giống lúa gieo sạ theo từng trà, giống lúa ngắn, trung ngày lại gieo cấy sớm vào trà đầu vụ (tháng 12) nên khi cây lúa vào giai đoạn làm đòng, trổ bông luôn gặp thời tiết bất lợi như nhiệt độ thấp, mưa phùn đã ảnh hưởng lớn đến năng suất cuối cùng.
Mặt khác còn có nguyên nhân trực tiếp làm ảnh hưởng đến năng suất lúa vụ đông xuân tại các tỉnh trong vùng đó là:
- Mưa muộn trong tháng 12 của năm trước, do mưa tập trung có khi hình thành lũ sớm đã gây ảnh hưởng đến trà gieo sớm sẽ làm trôi dạt giống thời điểm gieo sạ và ức chế sinh trưởng phát triển cây lúa thời kỳ cây con.
- Thời tiết giá lạnh từ tháng 1 đến 15/3, do nhiệt độ xuống thấp dưới 18-20oC, ẩm độ không khí tuyệt đối thấp < 55% và kết hợp mưa phùn đã ảnh hưởng đến trà lúa sớm làm đòng, trổ bông từ tháng 2 đến trước 10/3 sẽ gây nên tỷ lệ lép cao, thoái hóa đầu bông và hạt lửng nhiều dẫn đến năng suất thấp.
- Hạn hán diễn ra mạnh từ tháng 2 đến tháng 5, nặng nhất là từ tháng 2-5. Hạn kết hợp nhiệt độ tăng nhanh trên 30oC đã làm cạn kiệt nguồn nước tưới cho lúa. Hạn hán cũng tạo nên môi trường nắng ẩm là một trong những điều kiện rất thích hợp cho rầy nâu, rầy lưng trắng có cơ hội phát triển nhanh và có nguy cơ lan rộng thành dịch gây hại lớn.
Từ thực tiễn sản xuất lúa trong nhiều năm qua, các tỉnh trong vùng đã đồng loạt chuyển đổi hầu hết diện tích từ 3 vụ lúa/năm bấp bênh sang trồng 2 vụ/năm ăn chắc. Nhờ việc bố trí lại thời vụ gieo cấy và sử dụng cơ cấu giống lúa hợp lý, nên sản lượng lúa 2 vụ lúa/năm vẫn đạt cao từ 11-13 tấn/năm, tương đương sản lượng lúa gieo cấy 3 vụ lúa/năm, nhưng lại giảm được gần 1/3 chi phí đầu tư và hiệu quả kinh tế tăng cao. Từ những căn cứ có cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên nên khung thời vụ và cơ cấu giống lúa sản xuất vụ đông xuân 2011-2012 tại các tỉnh trong vùng như sau:
1. Thời vụ gieo sạ
- Đà Nẵng: lúa trổ bông an toàn từ ngày 20/3-5/4; thu hoạch lúa trước 30/4. Thời vụ gieo sạ từ ngày 20/12 và chậm nhất 10/1.
- Quảng Nam: lúa trổ bông an toàn từ ngày 20/3 đến 5/4; thu hoạch lúa từ ngày 25/4 đến 5/5. Thời vụ gieo sạ từ ngày 25/12 và chậm nhất 5/1.
- Quảng Ngãi: lúa trổ bông từ ngày 20/3 đến 5/4; thu hoạch lúa từ ngày 25/4 đến 5/5. Thời vụ gieo sạ từ ngày 25/12 và trà muộn nhất 10/1.
- Bình Định:
+ Cơ cấu 2 vụ lúa/năm: lúa trổ bông an toàn từ 15/3-30/3 và thu hoạch từ 15-30/4. Thời gian gieo sạ ngày 25/12 và trà muộn nhất 10/1.
+ Cơ cấu 3 vụ lúa/năm: lúa trổ bông từ 15/2-30/2. Thời gian gieo sạ từ 05/12-15/12 và thu hoạch từ 25/3-5/4.
- Phú Yên: lúa trổ bông an toàn từ 10/3-25/3 và thu hoạch từ 15-30/4. Thời gian gieo sạ từ ngày 20-30/12 và muộn nhất 5-10/1.
- Khánh Hòa: lúa trổ bông an toàn từ 10/3-25/3 và thu hoạch từ 10-25/4. Thời gian gieo sạ từ ngày 10-30/12 và chậm nhất 5/1.
2. Cơ cấu giống lúa
- Đà Nẵng: gieo sạ các giống lúa chính: NX30, Xi23. Giống bổ sung TBR45, HT1, Q5, Khang dân đột biến.
- Quảng Nam: gieo sạ các giống lúa chính Xi23, X21, TBR45, CH207, HT1, Q.Nam1; các giống lúa lai Nhị ưu 838, BiO404. Giống lúa bổ sung: NP12, NP16, TBR1, ĐT34, BC15, SH63, Q5, ĐV108, KD18 đột biến và TH3-3.
- Quảng Ngãi: gieo sạ các giống lúa chính: Q5, Khang dân đột biến, ĐV108, ĐH99-81, ĐH815-6, TBR1, ML48, HT1, ĐT34; các giống lúa lai: Nhị ưu 838, TH3-3, Syn6. Các giống lúa bổ sung: VS1, NX30, Xi23, BM9855, BTE1, BIO404.
- Bình Định:
+ Cơ cấu 2 vụ lúa/năm: các giống lúa chính: ĐV 108, ĐB6, Khang dân đột biến, SH2; lúa lai Nhị ưu 838. Các giống lúa bổ sung: TBR1, Q5, VTNA1, BiO404, D.ưu527, BTE1, N.ưu 69.
+ Cơ cấu 3 vụ lúa/năm: các giống lúa chính: ĐV 108, ĐB6, Khang dân đột biến, SH2; lúa lai Nhị ưu 838. Các giống lúa bổ sung: TBR1, ML202, ML214, ML48, HT1, VTNA1, TH3-3 PAC 807.
- Phú Yên: các giống lúa chính: ML202, ML201, ĐV108, Khang dân đột biến, OM6162, OM4088; các giống lúa lai: BiO404, Syn6, PAC807. Các giống bổ sung: ML68, ML48, TH41, HT1, TH6, ML216, ĐT34.
- Khánh Hòa: các giống lúa chính: TH6, ML202, TH41, TH6, ĐT34, VS1, ML48, HT1, ĐV108, Khang dân đột biến. Các giống lúa bổ sung: ML214, TH41, ML216.
3. Một số lưu ý trong thâm canh
Trong sản xuất lúa vụ đông xuân tại các tỉnh Nam Trung bộ cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Tiếp tục cải tiến thời vụ gieo cấy để lúa đông xuân làm đòng và trổ bông an toàn trong thời tiết nắng ấm. Các tỉnh phía bắc DHNTB gồm TP. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và các huyện phía bắc tỉnh Bình Định cần cho lúa trổ bông an toàn từ ngày 20 tháng 3 trở đi để tránh gặp lạnh, nhiệt độ thấp dưới 22oC.
- Cần sử dụng cơ cấu giống lúa thuần ngắn, trung ngày, năng suất cao, chất lượng khá, ít nhiễm sâu bệnh, thích ứng rộng phù hợp gieo cấy cả 2 vụ đông xuân và hè thu để thu hoạch gọn trước 15/9 nhằm tránh gió bão, lũ lụt.
- Đẩy mạnh sản xuất lúa lai, nhất là các giống lúa lai ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng gạo tốt, com ngon. Phấn đấu tăng dần diện tích lúa lai gieo cấy trong vùng từ 15-20% tổng diện tích để nâng cao sản lượng lúa nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ.
- Xây dựng các vùng sản xuất lúa giống tập trung hàng hóa kể cả giống lúa thuần và giống lúa lai để chủ động hạt giống và phục vụ sản xuất vụ mùa tại các tỉnh miền Bắc.
- Thực hiện chương trình quản lý dịch hại tổng hợp và chương trình 3 giảm 3 tăng trong thâm canh tăng năng suất lúa.
- Đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, sử dụng các loại phân bón hỗn hợp NPK, phân nén để bón ruộng, kết hợp bón phân hữu cơ vi sinh và bón vôi để nâng cao độ phì đất lúa tại các tỉnh trong vùng.
- Cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về sản xuất, chứng nhận chất lượng và kinh doanh giống cây trồng nói chung, giống lúa nói riêng tại các tỉnh trong vùng.
(Báo NNVN)
Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011
Giải pháp sản xuất lúa thu đông bền vững
Nông dân xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú (An Giang) canh nước lũ, giữ lúa TĐ |
Lúa vụ 3 có lợi
Trong những ngày lúa vụ 3 vị vỡ đê, ngập lụt, TS Chu Văn Hách, Trưởng bộ môn Kỹ thuật canh tác và các cán bộ của Viện lúa ĐBSCL đã đến các địa phương khảo sát, nắm rõ tình hình thực tế để tìm cách hỗ trợ nông dân địa phương. Về thuận lợi, phần lớn nông dân cho rằng: Nếu có hệ thống đê bao tốt, giá lúa cao, chi phí ít, chất lượng gạo TĐ lại tốt hơn so với HT thì làm lúa vụ này trúng lớn, vả lại có điều kiện cung cấp giống tốt cho vụ ĐX.
Kết quả điều tra hộ nông dân tại 4 tỉnh/thành có diện tích canh tác lúa vụ 3 cho thấy: 91% hộ làm lúa vụ 3 có lời, chỉ có 1% bị lỗ và 8% hòa vốn. Tính hiệu quả lúa vụ 3, năng suất bình quân đạt 4,22 tấn/ha (lúa khô), với giá lúa cao như hiện nay thì nông dân có lời trung bình khoảng 11 triệu đồng/ha/vụ.
Mức lời như vậy là hấp dẫn người dân, vì nếu không làm lúa vụ này thì khó có thể tăng thêm thu nhập. Tuy nhiên, khó khăn bất lợi mà nông dân thường gặp là giá công lao động, giá vật tư cao và không ổn định. Lũ về sớm nếu không có đê bao chắc chắn sẽ bị mất mùa.
Theo Sở NN-PTNT các tỉnh ĐBSCL, tổng diện tích lúa TĐ 2011 toàn vùng đạt 635.385ha, cao hơn năm trước khoảng 100.000ha. Trong 10 năm qua nông dân trong vùng đê bao đã an tâm sản xuất lúa vụ 3. Thế nhưng vụ TĐ năm nay gặp lũ lớn bất ngờ. Do sau nhiều năm không có lũ lớn nên nông dân chủ quan, không quan tâm việc gia cố đê bao. Tới khi lũ quá cao tràn bờ, xảy ra vỡ đê một số vùng lúa bị thiệt hại.
Các cán bộ nông nghiệp các tỉnh làm lúa TĐ nhận xét: Nông dân làm lúa vụ 3 năm nay bị thiệt hại cần được Nhà nước hỗ trợ. Nhưng nhìn toàn cục, lúa TĐ vẫn thắng lớn và rút ra được nhiều kinh nghiệm cho vụ TĐ những năm sau. Nhất là lo củng cố đê bao, cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống, nhất là sử dụng các giống ngắn ngày.
Để lúa vụ 3 ăn chắc
Theo các địa phương có diện tích lúa TĐ trong vùng, nếu được đầu tư đê bao đảm bảo chắc chắn, 7 tỉnh trong vùng lũ sẽ giữ ổn định diện tích vụ TĐ như năm 2011. Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí để xây dựng mới đê bao đảm bảo chất lượng, đủ cao trình, gia cố đê bao cũ và xây dựng các trạm bơm điện vừa và nhỏ để phục vụ cho tưới tiêu.
Ngành thủy lợi giúp tính toán lại cao trình của lũ, vì mỗi năm lũ một dâng cao hơn để có phương án nạo vét các hệ thống thoát lũ và gia cố đê điều cho phù hợp. Cần có liên kết vùng trong tránh lũ và ô nhiễm môi trường, liên kết giữa các tỉnh để tránh trường hợp tỉnh này xả lũ làm cho tỉnh khác bị ngập úng.
Về mặt khoa học, GS.TS Nguyễn Văn Luật cho rằng không thể phủ nhận việc sản xuất liên tục có thể làm giảm độ màu mỡ của đất nếu không có nước lũ vào ruộng như ở nơi có bờ đê bao khép kín ngăn lũ để tăng vụ. Tuy vậy thực tế trong gần chục năm qua bà con nông dân đã làm lúa 3 vụ năng suất vẫn tăng cao.
Các nhà khoa học Viện lúa ĐBSCL và Trường Đại học Cần Thơ góp ý: Nếu canh tác thuần 3 vụ lúa liên tiếp trong năm có thể làm xói mòn một số nguyên tố khoáng và hữu cơ, ảnh hưởng tới độ phì tự nhiên của đất. Tuy nhiên, hàng năm đất lúa vùng ĐBSCL đã được bù đắp lại một lượng phù sa rất lớn cộng với một lượng rơm rạ hoàn trả cho đất cũng khá lớn, nên khả năng thiếu các nguyên tố trung, vi lượng và hữu cơ không lớn lắm.
+ Trong 635.385ha lúa TĐ, đã thu hoạch 231.486ha, đạt gần 40%; chưa thu hoạch 396.334ha (trên 60%); diện tích lúa bị mất trắng do vỡ đê 7.565ha, chiếm 1,2%. Lúa bị thiệt hại tập trung ở 3 tỉnh An Giang 3.902ha; Đồng Tháp 2.073ha và Long An 481ha. + Năm 2010, ĐBSCL có hơn 520.000 ha lúa TĐ, góp phần làm tăng thêm sản lượng lúa cả năm lên 2 triệu tấn, trong đó riêng lúa vụ 3 (TĐ) toàn vùng có sản lượng 2 - 2,2 triệu tấn lúa/năm. |
Đề phòng dịch bệnh, trước hiện tượng thay đổi khí hậu toàn cầu và canh tác lúa liên tục nếu áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại không hợp lý trên đồng ruộng có thể gây ra nhiều thay đổi về tính đa dạng và phong phú của côn trùng và bệnh hại, phân bố về địa lý của các loài dịch hại, biến động quần thể, kiểu sinh học (biotype) của loài dịch hại, mối tương quan giữa dịch hại và cây lúa, hoạt động và mức độ phổ biến của các loài thiên địch, khả năng thay đổi độc tính của một số loài, và nhất là khả năng phát sinh nhiều loài dịch hại mới.
Do vậy, cần bố trí gieo sạ đồng loạt trên một cánh đồng theo lịch né rầy của ngành BVTV; chọn những giống ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với từng địa phương, giảm thời gian cây lúa đứng trên đồng và bố trí thời vụ sao cho không làm ảnh hưởng tới vụ sau, đặc biệt là vụ ĐX.
Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011
Một số hoạt chất đặc trị Rầy Nâu
LUAGAO - Để phòng trừ rầy nâu (môi giới truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá) hãy chọn những loại thuốc đặc trị, sử dụng đúng và nên luân phiên thuốc, để tránh việc dùng 1-2 loại thuốc gây ra tình trạng lờn thuốc, kháng thuốc và kém hiệu quả.
Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011
Khắc phục lúa đông xuân phát triển chậm
LUAGAO - Tiết thanh minh (5/4) đang đến gần, đây là thời kỳ lúa đông xuân ở các địa phương miền Bắc đang trong giai đoạn từ cuối đẻ nhánh đến đứng cái - làm đòng. Thế nhưng năm 2011 này, tất cả diện tích lúa đông xuân đều sinh trưởng, phát triển chậm.
Phân bón là yếu tố dinh dưỡng quan trọng liên quan đến sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng lúa. Tuy nhiên, thời tiết khí hậu vẫn là yếu tố quyết định. Sở dĩ tất cả diện tích lúa đông xuân đang bị sinh trưởng, phát triển chậm là do: Sau khi gieo cấy xong, thời tiết diễn biến xấu, trời liên tục giá rét, nhiệt độ xuống thấp, biên độ nhiệt ngày và đêm cao, độ ẩm không khí lớn... đã khống chế quá trình hấp thu dinh dưỡng và sinh trưởng phát triển của cây lúa.
Cụ thể đi thăm đồng, nhìn cây lúa trên ruộng, chúng tôi khó phân biệt được ruộng nào đã bón thúc hoặc chưa bón; lúa cấy vẫn đang giai đoạn chúm đuôi gà, bé khóm, lúa gieo thẳng thì còn nguyên hình cây mạ. Bác Lai ở thôn Lương Gián, xã Quốc Tuấn (Nam Sách - Hải Dương) cho biết: “Cấy 1 sào giống Khang dân 18 bằng phương thức gieo mạ sân, lúc cấy mạ rất đẹp, sau đó đến nay đã rắc thúc tổng số 6 kg urê, 30kg phân bắc mục và 8 kg lân viên tổng hợp mà lúa vẫn chậm phát triển, có cảm giác như cây lúa bị mòn dần”. Các cụ lão nông cho biết: “Cây bàng bị thâm đen, chậm ra lộc; cây cao su ở miền núi bị chết là trời đã giá rét bất thường nhưng lại là dấu hiệu của một vụ lúa đông xuân được mùa”.
Để tránh tình trạng dư thừa dinh dưỡng, gây tốt lốp và sâu bệnh sau này hoặc dinh dưỡng không được cung cấp kịp thời, trong khi thời tiết còn diễn biến phức tạp, chúng tôi xin nêu một số biện pháp kỹ thuật khắc phục cùng dự báo nhỏ để bà con nông dân tham khảo và có thể áp dụng:
(Thông tin chi tiết xin theo dõi trên Báo NNVN số 63 ra ngày 30/3/2011)
Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2010
BỆNH ĐẠO ÔN HẠI LÚA VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
- Lúa Thu Đông-Mùa 2009: Cơ bản thu hoạch xong, còn một ít diện tích lúa Mùa ở giai đoạn đòng trổ-chín.
- Lúa ĐX 2009-2010: Toàn vùng xuống giống được 1.566.303 ha (khu vực ĐBSCL: 1.464.312 ha, khu vực Đông Nam Bộ: 101.991 ha). Bao gồm giai đoạn mạ (172.161 ha), đẻ nhánh (750.737 ha); đòng trổ (481.509 ha), chín (104.480 ha), thu hoạch (57.416 ha). Cũng theo báo cáo ngày thì tình hình bệnh đạo ôn phát triển như sau:
+ Bệnh đạo ôn lá:Toàn vùng có 98.996 ha lúa bị nhiễm bệnh (tăng 19.533 ha so với tuần trước) với tỷ lệ bệnh phổ biến từ 5 đến 10%, nơi cao >20% với diện tích 1.181 ha. Các tỉnh có bệnh xuất hiện như Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Sóc Trăng, Hậu Giang, Tiền Giang, Cần Thơ, Trà Vinh…
+ Bệnh đạo ôn cổ bông: Toàn vùng có khoảng 2.179 ha nhiễm bệnh (gỉam 144 ha so với tuần trước), với tỷ lệ bệnh 5-10%. Bệnh xuất hiện ở các tỉnh Bạc Liêu, Long An, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Đồng Nai.
Theo dự báo của Trung tâm BVTV phía nam thì tình hình Bệnh đạo ôn sẽ tiếp tục phát sinh phát triển gây hại trên diện rộng ở hầu hết các tỉnh trong vùng và có khả năng gây hại nặng đối với những ruộng sạ dày, bón thừa phân đạm, sử dụng giống nhiễm (Jasmine, VD 20, HĐ 1, OM 2514...). Bà con Nông dân phải thăm đồng thường xuyên để phát hiện sớm bệnh đạo ôn lá và xử lý kịp thời bằng thuốc đặc trị, phun ngừa bệnh đạo ôn cổ bông trước và sau khi lúa trổ; khi ruộng đã bị nhiễm bệnh cần giữ nước tốt trên ruộng, không bón phân hoặc phun phân bón lá.
Để giúp bà con hiểu hơn về bệnh đạo ôn, đặc điểm phát sinh phát triển, dấu hiệu nhận biết. Hôm nay tôi xin trình bày đôi nét về bệnh đạo ôn và một số biện pháp phòng trị để bà con chủ động đối phó; nâng cao năng suất chất lượng.
Người ta phân làm hai loại bệnh đạo ôn: đạo ôn lá (tác hại trên lá) và đạo ôn cổ bông (tác hại trên bông)
1. Tác nhân và triệu chứng gây bệnh.
· Nguyên nhân: Do nấm Pirycularia oryzae gây ra.
· Bệnh gây hại trên tất cả bộ phận của cây Lúa: lá, đốt thân, cổ bông, cổ gié và hạt.
Hình 1: Triệu chứng ban đầu xuất hiện trên lá là những vết châm kim
Hình 2: Triệu chứng điển hình trên giống nhiễm nặng những vết hình mắt én
Hình 3: Triệu chứng bệnh trên cổ bông
2. Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh.
· Phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ do đó bệnh phát triển thất thường, bệnh xuất hiện và gây hại từ giai đoạn mạ đến khi trỗ chín
· Điều kiện thời tiết: bệnh hại nặng vào lúc trời mát, ẩm, có sương mù, gió mạnh.
· Ảnh hưởng bởi phân bón: bón nhiều N bệnh nặng, bón P hạn chế được bệnh (ở vùng phèn), bón K tuỳ thuộc vào lượng N.
· Ảnh hưởng của giống: ở ruộng trồng giống nhiễm, điều kiện thời tiết thuận lợi bệnh phát triển nặng.
· Ở những vùng lúa bị hạn, ở những vùng trồng lúa nương, biên độ nhiệt ngày đêm chênh lệch lớn, sương mù thì bệnh cũng phát triển và gây hại rất nặng.
3. Biện pháp phòng trừ
· Chọn giống kháng hoặc giống ít nhiễm.
· Vệ sinh đồng ruộng, đốt tàn dư sau khi thu hoạch, cày vùi.
· Sử dụng phân bón cân đối hợp lý.
· Giữ nước thường xuyên cho ruộng lúa nhất là khi có dịch bệnh.
· Theo dõi diễn biến của bệnh, đặc biệt chú ý các giống nhiễm. Khi bệnh phát sinh nên cho thêm nước vào ruộng, ngưng bón phân đạm, không phun phân bón lá và thuốc kích thích sinh trưởng, phun các loại thuốc đặc trị bệnh.
· Dùng các loại thuốc đặc trị bệnh đạo ôn
Hiện tại trên thị trường có nhiều hoạt chất đặc trị bệnh đạo ôn, và nhiều tên thương mại khác nhau. Hôm nay tôi xin giới thiệu với bà con một sản phẩm thuốc rất hiệu quả phòng trị đạo ôn, đó là TRIZOLE của Công ty CP BVTV SAIGON.
- TRIZOLE có ba dạng 20WP; 75WP; 75WDG; có hoạt chất là Tricycrazole chuyên trị đạo ôn cổ bông; và cũng trị được đạo ôn lá. Thuốc hấp thu qua lá và lưu dẫn vào cây nên vừa phòng bệnh và vừa trị bệnh.
- Liều lượng và cách thức sử dụng bà con đọc kỹ trên nhãn thuốc.
- TRIZOLE hiện có bán tại hầu hết các Đại lý trên toàn quốc.
- Ngoài ra một sô thuốc để phòng và trị đạo ôn bà con có thể phun xịt như Kisaigon 50ND; Lúa Vàng 20WP; Pysaigon 50WP,…
- Mọi vấn đề về kỹ thuật vui lòng liên hệ: Nguyễn Chí Công – Phòng Quảng Bá, Công ty CP BVTV SAIGON, DTDD: 0902 339 006.
Chúc thành công!
